Gỡ điểm nghẽn, mở rộng nguồn thu từ xuất nhập khẩu

8 tháng năm 2026, thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của Quảng Ninh đạt 12.572 tỷ đồng, tăng 7,23% so với cùng kỳ năm 2025, nhưng mới hoàn thành 68,82% kịch bản thu 9 tháng. Để đạt mục tiêu đề ra, tháng 9 phải thu thêm 5.695 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khai thác hiệu quả hơn lợi thế cửa khẩu, cảng biển và hệ thống logistics, nhằm tạo nguồn thu bền vững.

Trong các khoản thu ngân sách chưa bảo đảm tiến độ, thu từ hoạt động XNK đang chịu áp lực lớn nhất. 8 tháng năm 2026, thu XNK của Quảng Ninh chỉ đạt 68,82% kịch bản thu 9 tháng, 71,84% dự toán Trung ương và HĐND thành phố giao; mới đạt 50,29% kế hoạch năm. Để hoàn thành kịch bản 9 tháng, riêng tháng 9 còn phải thu 5.695 tỷ đồng, tương đương khoảng 3,6 lần mức thu bình quân trong 8 tháng đầu năm.

bqn_tr_thu-ngan-sach-xnk.jpg
Hải quan khu vực cầu Bắc Luân II (Cửa khẩu quốc tế Móng Cái) kiểm tra lô hàng thiết bị ô tô nhập khẩu.

Áp lực này cho thấy bài toán thu ngân sách từ XNK không chỉ nằm ở những tháng cuối năm, mà đặt ra yêu cầu dài hạn về cách khai thác lợi thế cửa khẩu, cảng biển, giao thông và hệ thống KCN để kéo dòng hàng về địa bàn, qua đó tạo thêm giá trị dịch vụ và nguồn thu ổn định cho thành phố.

Trong nhóm khoản thu tính vào tổng sản phẩm trên địa bàn, thuế giá trị gia tăng (VAT) hàng nhập khẩu 8 tháng đạt 10.103 tỷ đồng, bằng 70,7% kịch bản, còn phải thu 4.197 tỷ đồng. Thuế nhập khẩu còn phải thu 587 tỷ đồng; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu còn thiếu 693 tỷ đồng. Riêng VAT hàng nhập khẩu chiếm khoảng 63% tổng phần thu còn lại của nhóm này.

Kết quả trên là do chịu tác động bởi cả những yếu tố khách quan và các điểm nghẽn nội tại. Chính sách ưu đãi thuế đối với xăng dầu nhập khẩu còn hiệu lực đến hết ngày 30/9/2026, theo tính toán của cơ quan hải quan thì đã làm giảm khoảng 2.873 tỷ đồng số thu. Cùng với đó, sản lượng than nhập khẩu giảm khi các nhà máy tăng huy động thủy điện trong mùa mưa bão. Đây là những yếu tố nằm ngoài khả năng điều chỉnh tức thời của địa phương.

Ngoài ra còn là những hạn chế về hạ tầng và năng lực cạnh tranh logistics. Hệ thống kho bãi, dịch vụ logistics và năng lực khai thác cảng biển chưa đáp ứng tương xứng với tiềm năng; chi phí còn cao so với khu vực Hải Phòng. Trong khi đó, luồng vào cảng và khu vực quay trở tàu chưa được nạo vét từ năm 2019, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận và khai thác tàu, hàng hóa.

bqn_tr_bo-phan-tiep-nhan-tap-trung.jpg
Bộ phận tiếp nhận, giải quyết TTHC tập trung cầu Bắc Luân II xử lý hồ sơ XNK cho doanh nghiệp.

Thực tế cho thấy, khi điều kiện hạ tầng và dịch vụ chưa đủ sức cạnh tranh, doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn những địa điểm có chi phí logistics thấp hơn, dịch vụ thuận tiện hơn để thực hiện thủ tục XNK. Điều này không chỉ làm giảm cơ hội tăng thu ngân sách, mà còn khiến một phần giá trị gia tăng từ dòng hàng hóa chưa được giữ lại trên địa bàn.

Ở chiều ngược lại, kết quả thu hút doanh nghiệp mới cho thấy dư địa vẫn còn rất lớn. Đến hết tháng 8, Quảng Ninh đã thu hút thêm 1.350 doanh nghiệp mới thực hiện thủ tục hải quan, đóng góp khoảng 1.092 tỷ đồng vào số thu. Con số này cho thấy, nếu tạo được môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đưa hàng hóa về làm thủ tục tại địa phương, nguồn thu XNK hoàn toàn có thể được mở rộng cùng với quy mô dòng hàng.

Trước mắt, để tăng nguồn thu trong những tháng cuối năm, ngành hải quan và các cơ quan liên quan đang tập trung vận động doanh nghiệp nhập khẩu than, xuất khẩu đá vôi, clanhke, nhập khẩu vật tư, thiết bị phục vụ ngành than thực hiện thủ tục tại Quảng Ninh; giữ chân các doanh nghiệp nhập khẩu điện thoại di động, ô tô, rơ moóc tại khu vực cửa khẩu Móng Cái; thu hút hàng hóa chuyển tải, hạ tải qua khu vực cảng biển Hòn Gai. Đây là những giải pháp có thể tác động trực tiếp đến số thu trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, để tạo chuyển biến căn cơ, Quảng Ninh cần biến lợi thế địa kinh tế thành năng lực logistics thực sự. Thành phố có hệ thống cửa khẩu, cảng biển, cao tốc kết nối Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái và nhiều KCN lớn, song luồng tàu còn hạn chế, quỹ đất kho bãi thiếu, dịch vụ logistics chưa đồng bộ và chi phí còn cao. Đây là những điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.

Cùng với các giải pháp trước mắt, thành phố cần tiếp tục kiến nghị đẩy nhanh nạo vét luồng vào cảng, khu vực quay trở tàu tại Cái Lân, Hòn Gai; quy hoạch quỹ đất logistics tập trung quy mô từ 50ha tại khu vực cảng biển và thúc đẩy các dự án hạ tầng liên quan. Bởi cao tốc chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được kết nối với cảng biển, cửa khẩu, kho bãi, cùng các dịch vụ logistics, tạo thành một chuỗi vận chuyển thông suốt, cạnh tranh về chi phí và thời gian.

Nguồn hàng cho chuỗi này đang được hình thành từ chính hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp Quảng Ninh đạt 3,128 tỷ USD, tăng 17,19%; nhập khẩu đạt 3,517 tỷ USD, tăng 18,46%. Nếu hàng hóa được vận chuyển, lưu kho, thông quan và sử dụng dịch vụ logistics ngay tại địa phương, giá trị kinh tế tạo ra sẽ không chỉ nằm ở thuế XNK, mà còn mở rộng sang vận tải, kho bãi, giao nhận, bảo hiểm và các dịch vụ hỗ trợ.

Vì vậy, thu ngân sách từ XNK cần được đặt trong một chuỗi giá trị rộng hơn, đòi hỏi sự phối hợp của các ngành, địa phương và đơn vị quản lý hạ tầng. Với mục tiêu thu cả năm 18.300 tỷ đồng, dư địa tăng thu vẫn còn, nhưng về dài hạn, hiệu quả của một thành phố cảng cần được đo bằng cả lượng hàng qua cảng, số tuyến vận tải, số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics, chi phí, thời gian logistics và giá trị dịch vụ tạo ra quanh mỗi dòng hàng.

Mạnh Trường

Cùng chuyên mục