Mười một năm ấy một chặng đường,
Vùng than ngày ấy mấy phong sương.
Biển trời Hạ Long còn vang sóng,
Thợ mỏ kiên cường giữ yêu thương.
Mái tóc hôm nay pha sương bạc,
Bao mùa mưa nắng vẫn còn vương.
Gặp lại đồng đội lòng xao xuyến,
Một cái bắt tay ấm nghĩa thương.
Mùi hương gọi ký ức
Có những ký ức không nằm trong những tấm ảnh. Chúng lặng lẽ trú ngụ trong một mùi hương. Với tôi, đó là mùi cơm mới tỏa ra từ căn bếp nhỏ mỗi chiều cuối tuần. Mùi thơm của hạt lúa quê nhà chẳng biết tự bao giờ đã trở thành một sợi dây vô hình, chỉ cần khẽ chạm vào là cả một miền ký ức lại trở về.
Sau một tuần làm việc, tôi lại trở về ngôi nhà nhỏ nơi quê hương. Chiếc máy ảnh được đặt ngay ngắn lên giá sách, nhường chỗ cho chiếc nia tre đã theo vợ tôi qua biết bao mùa lúa. Bà xã xách thúng gạo vừa xay đặt giữa sân, mỉm cười bảo: “Ông phóng viên hôm nay giúp tôi sảy gạo nhé!”. Tôi đón lấy chiếc nia, lắc đều đôi tay. Những hạt gạo chắc mẩy dần lắng xuống, còn trấu và cám theo làn gió nhẹ bay đi. Mùi gạo mới quyện cùng hương rơm, hương lúa và tiếng chim gọi chiều khiến khoảng sân quê bình yên đến lạ.
Có lẽ bởi mỗi lần nâng chiếc nia tre, tôi lại thấy nghề cầm máy ảnh và nghề làm nông có một nét giống nhau. Muốn có một bức ảnh đẹp phải biết kiên nhẫn chờ đúng khoảnh khắc. Muốn có bữa cơm ngon cũng phải biết chắt chiu từng hạt gạo.
Nhưng mùi cơm mới cũng luôn gợi về một mùi khác: Mùi đất đá trộn lẫn than bùn sau những ngày mưa xối xả, mùi dầu máy quyện trong hơi nước, mùi gỗ chống lò còn ngai ngái dưới lòng đất. Đó là những mùi rất riêng của vùng Than. Một khi đã đi qua thì suốt đời không thể nào quên.
Vùng Than trong biển nước
Chỉ cần một cơn mưa, ký ức lại đưa tôi trở về cuối tháng Bảy năm 2015, khi Quảng Ninh oằn mình trong trận mưa lũ đặc biệt dữ dội. Từ ngày 23 đến 29/7, lượng mưa tại một số điểm vượt 1.500mm. Nhiều khu vực chìm trong biển nước, giao thông chia cắt, nhà cửa ngập lụt, đất đá từ các bãi thải theo dòng nước đục ngầu cuồn cuộn tràn xuống khai trường và khu dân cư.
Tôi vẫn nhớ hình ảnh một chiếc xe khách chở khoảng 40 người chết máy giữa dòng nước lũ. Chỉ cần nước dâng thêm một chút, tai họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Những ngày ấy, thiên tai không còn là những dòng tin trên bản tin thời tiết, mà hiện diện ngay trước mắt, lạnh lùng và dữ dội.
Sau đợt mưa lũ, Quảng Ninh ghi nhận 23 người chết và mất tích, gần 4.000 ngôi nhà bị ngập, thiệt hại kinh tế vượt 1.000 tỷ đồng. Nhưng phía sau những con số ấy là biết bao phận người: Căn nhà vừa dựng lên đã ngập đến mái, thúng gạo bị nước cuốn trôi, những người mẹ đứng bên cửa nhìn dòng nước đục ngầu chảy qua sân, những người cha bất lực nhìn đàn con giữa cảnh màn trời chiếu đất.
Hôm ấy, nhận được điện thoại của đồng chí Tổng Biên tập Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam, tôi lập tức lên đường xuống Vùng mỏ với chiếc máy ảnh trên vai. Xe vừa đến địa phận Cẩm Phả, trước mắt tôi là một khung cảnh chưa từng thấy trong nhiều năm cầm máy.
Bầu trời đặc quánh màu chì. Mưa trắng trời. Đất đá từ các bãi thải trượt xuống như những dòng thác bùn khổng lồ. Các khai trường lộ thiên biến thành những hồ nước mênh mông. Đường sắt chuyên dùng, băng tải, trạm điện, kho than, nhà xưởng và thiết bị khai thác bị ngập, bị vùi lấp hoặc hư hỏng nặng. Theo thống kê ban đầu, 16 mỏ than chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, hàng nghìn tấn than bị nước lũ cuốn trôi.
Có những cỗ máy trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng nằm bất động giữa biển bùn. Có những moong khai thác lộ thiên bị nước nhấn chìm. Nhưng điều khiến những người chỉ huy ngành Than lo lắng nhất không phải là số than bị mất, mà là con người, là những đường lò sâu dưới lòng đất và sự an toàn của những người thợ đang làm việc trong lòng núi.
Cứu người, giữ mỏ giữa mùa nước dữ
Trong những ngày ấy, lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) liên tục phát đi những chỉ đạo khẩn cấp. Ông Lê Minh Chuẩn, Chủ tịch Tập đoàn lúc bấy giờ, yêu cầu các đơn vị dồn toàn bộ nguồn lực khắc phục sự cố, không thể vì tham vài tấn than mà để xảy ra sự cố đáng tiếc. Tổng Giám đốc Đặng Thanh Hải xác định nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là cứu mỏ, bảo đảm an toàn cho các mỏ hầm lò, khẩn trương thoát nước tại các moong khai thác lộ thiên.
TKV quyết định dừng toàn bộ hoạt động sản xuất than trên địa bàn Quảng Ninh để tập trung phòng, chống mưa lũ và khắc phục hậu quả. Quyết định ấy đồng nghĩa với việc sản lượng than sản xuất và tiêu thụ giảm trên 0,5 triệu tấn, nhưng trước thiên tai đặc biệt nghiêm trọng, an toàn của con người và sự sống còn của các mỏ phải được đặt lên trên tất cả.
Tôi theo chân những người thợ mỏ đi qua những con đường bùn ngập quá đầu gối. Mỗi bước chân nhấc lên đều nặng trĩu đất đá. Quần áo ướt sũng từ sáng đến tối. Chiếc máy ảnh được tôi ôm chặt trước ngực, bởi tôi hiểu những khoảnh khắc này sẽ không bao giờ có lại lần thứ hai.
Ở khu vực đập chắn suối 9.8, bãi thải Đông Cao Sơn, TKV huy động tối đa thiết bị để gia cố đê ngăn nước, củng cố đập chắn, bảo vệ khu vực xung yếu. Cùng với chính quyền địa phương, các lực lượng tổ chức di dời những hộ dân có nguy cơ bị ảnh hưởng đến nơi an toàn. Công nhân mỏ, bộ đội và lực lượng điện lực phối hợp xếp bao cát, bảo vệ các trạm điện quan trọng ở Mông Dương.
Dưới lòng đất, cuộc chiến với nước còn căng thẳng hơn. Các hệ thống bơm thoát nước được lắp đặt bổ sung và vận hành liên tục. Công nhân thay nhau theo dõi mực nước, kiểm soát từng vị trí có nguy cơ ngập lụt. Tại Quang Hanh, Dương Huy, Mông Dương, những tổ bơm hoạt động ngày đêm. Máy bơm không được phép dừng, đường lò không được phép để nước tiếp tục dâng.
Nhìn những con số về thiết bị, công suất bơm trên giấy có thể thấy khô khan, nhưng đứng giữa khai trường trong những ngày ấy mới hiểu đằng sau mỗi con số là biết bao con người đang làm việc không kể ngày đêm. Đó là những ca trực kéo dài, những bữa cơm ăn vội và những người thợ chỉ rời vị trí khi nhiệm vụ đã hoàn thành.
Quân dân cùng giữ Vùng mỏ
Trong biển nước ấy, hình ảnh khiến tôi xúc động không kém những người thợ mỏ là những người lính. Hai xe đặc chủng của Lữ đoàn 147 Hải quân đánh bộ cùng hơn 100 cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 242, Quân khu 3 được huy động đến Mông Dương giúp dân chống lũ quét.
Những người lính cùng công nhân mỏ, lực lượng cứu hộ và người dân địa phương dầm mình trong nước, đưa người ra khỏi vùng nguy hiểm, vận chuyển đồ đạc, hỗ trợ những gia đình bị cô lập.
Tôi đứng sau ống kính và nhìn những bàn tay ấy: Bàn tay người lính, bàn tay người thợ, bàn tay người dân. Không còn khoảng cách giữa những bộ quân phục, những bộ quần áo bảo hộ hay những người dân áo quần lấm lem bùn đất. Tất cả cùng chung một nhiệm vụ: Cứu người, cứu nhà, cứu mỏ và giữ lấy sự sống.
Đó là lúc tôi hiểu sâu sắc hơn hai chữ “Đồng tâm”. Nó không phải là một câu khẩu hiệu. Nó là bàn tay kéo đồng đội vượt qua dòng nước xiết, là hộp cơm ăn vội bên gầu máy xúc, là ánh đèn xe cơ giới xuyên màn mưa suốt đêm không tắt, là người lính bế một đứa trẻ ra khỏi vùng ngập, là người công nhân vừa dọn xong bùn trong nhà đã quay lại đơn vị.
Ngành Than cũng không chỉ lo cho những gì thuộc về mình. Song song với việc khắc phục hậu quả, TKV hỗ trợ tỉnh Quảng Ninh 10 tỷ đồng; các đơn vị bố trí phương tiện, máy móc giúp người dân di dời, nạo vét bùn đất, khơi thông dòng chảy và khôi phục giao thông. Những chiếc máy xúc vốn quen với việc bóc đất, mở tầng khai thác, những ngày ấy lại làm một công việc khác: Mở đường cho dân, khơi dòng nước, giúp người dân sớm ổn định cuộc sống.
Vùng than trong những ngày gian khó ấy không chỉ có những người đào than từ lòng đất, mà còn có một cộng đồng người biết dựa vào nhau để vượt qua hoạn nạn.
Cái bắt tay giữa sân mỏ Mông Dương
Ngày 5/8/2015 là một ngày tôi không bao giờ quên. Buổi sáng hôm ấy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trực tiếp đến Mỏ Mông Dương, một trong những nơi chịu thiệt hại nặng nề nhất của trận đại hồng thủy, để thăm hỏi, động viên cán bộ, công nhân và người dân Vùng mỏ.
Sân đơn vị khi ấy vẫn còn nhão nhoét bùn đất. Những đôi ủng cao su phủ kín màu đất đá. Gương mặt ai cũng hằn dấu những đêm thức trắng. Không có vẻ trang trọng của một buổi lễ thông thường, chỉ có những con người vừa đi qua những ngày sinh tử đứng quây quần bên nhau giữa sân mỏ.
Tôi cũng có mặt trong buổi gặp gỡ ấy. Khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước đến, lần lượt bắt tay từng người thợ mỏ, từng cán bộ đang có mặt, ai nấy đều xúc động. Rồi đến lượt mình được Chủ tịch nước nắm chặt bàn tay, tôi cảm nhận rất rõ hơi ấm của sự sẻ chia và niềm tin được truyền sang từ cái bắt tay chân tình ấy.
Tôi hiểu, đó không phải là cái bắt tay dành riêng cho một cá nhân. Đó là sự động viên dành cho những người thợ Vùng than đã kiên cường bám mỏ, bám lò suốt những ngày mưa dữ; cho những gia đình vừa chịu mất mát nhưng vẫn động viên nhau đứng dậy; cho những người lính, những cán bộ cứu hộ và người dân đã thức trắng nhiều đêm để giành lại sự sống cho Vùng mỏ.
Một cái bắt tay đúng lúc đôi khi có thể tiếp thêm nghị lực cho cả một vùng đất đang oằn mình sau thiên tai.
Truyền thống được viết bằng hành động
Mưa lũ rồi cũng qua đi. Nhưng cuộc chiến khôi phục sản xuất sau đó vẫn còn rất nhiều gian nan. Những tuyến đường được khơi thông, các hệ thống thoát nước được khôi phục, máy móc được sửa chữa, các đường lò được gia cố, những tầng khai thác từng bước hoạt động trở lại. Các đơn vị sàng tuyển, kho vận tranh thủ từng khoảng trời tạnh để khôi phục vận chuyển than, bảo đảm nguồn cung cho các nhà máy điện và khách hàng.
Không ai có thể khôi phục một vùng mỏ bị tàn phá chỉ trong một ngày. Nhưng họ có thể bắt đầu từ một chiếc máy bơm, một bao cát, một mét đường được khơi thông, một mét đường lò được gia cố. Cứ thế, từng chút một, Vùng mỏ đứng dậy.
Mười một năm đã trôi qua. Mỗi lần trở lại Quảng Ninh, tôi vẫn thích đứng thật lâu trên những điểm cao nhìn xuống các khai trường đang rộn rã tiếng máy. Những tuyến băng tải vươn dài men theo sườn núi, những đoàn xe trọng tải lớn nối nhau xuống cảng, những khu vực từng ngổn ngang bùn đất năm nào giờ đã mang một diện mạo khác. Vùng than hôm nay đang từng ngày đổi mới theo hướng xanh hơn, sạch hơn, an toàn hơn và phát triển bền vững hơn.
Nhìn lại chặng đường 90 năm truyền thống công nhân Vùng mỏ, tôi càng hiểu rằng sức mạnh của ngành Than không chỉ nằm trong lòng đất, trong những tấn than khai thác hay những công trình sản xuất hiện đại. Sức mạnh ấy còn nằm trong con người, trong kỷ luật lao động, trong tinh thần đoàn kết và khả năng đứng dậy sau mỗi lần thử thách.
Từ những cuộc đấu tranh của công nhân Vùng mỏ năm xưa đến những người thợ kiên cường giữ mỏ trong trận đại hồng thủy năm 2015, tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" vẫn được tiếp nối bằng những hành động cụ thể. Truyền thống không chỉ được nhắc lại trong những ngày kỷ niệm, mà được viết tiếp mỗi ngày bằng mồ hôi, trách nhiệm, lòng yêu nghề và sự gắn bó của những người thợ mỏ.
Nồng thơm mùi cơm mới
Chiều cuối tuần, tôi lại trở về ngôi nhà nhỏ của mình. Chiếc máy ảnh nằm lặng lẽ trên giá sách. Ngoài sân, bà xã lại đưa cho tôi chiếc nia tre và thúng gạo vừa xay. Tôi nâng chiếc nia, lắc thật đều đôi tay. Những hạt gạo chắc mẩy từ từ lắng xuống, còn trấu và cám theo gió nhẹ bay đi.
Mùi cơm mới từ căn bếp nhỏ lại chầm chậm lan khắp khoảng sân quê. Thứ hương thơm bình dị ấy một lần nữa khẽ chạm vào miền ký ức của tôi. Giữa mùi lúa mới lại thấp thoáng mùi than bùn năm cũ. Giữa tiếng chim gọi chiều lại vang lên đâu đó tiếng máy bơm, tiếng máy xúc và tiếng gọi nhau khẩn trương giữa cơn mưa trắng trời của mười một năm trước.
Với tôi, khuôn hình đẹp nhất mà cuộc đời dành tặng không phải là bức ảnh đoạt giải, cũng không phải khoảnh khắc bấm máy giữa mưa lũ hay cái bắt tay với Chủ tịch nước. Đó là hình ảnh những người thợ mỏ lặng lẽ bước lên từ biển bùn, phủi nhẹ lớp đất trên vai rồi lại bình thản đi về phía cửa lò, bởi họ hiểu rằng phía trước còn có những chuyến than đang chờ được khơi thông, những nhà máy điện đang chờ nguồn nhiên liệu và cuộc sống đang cần họ tiếp tục lao động.
Mỗi lần mùi cơm mới tỏa ra từ căn bếp nhỏ trong buổi chiều cuối tuần, tôi lại mỉm cười. Bởi từ một mùi hương bình dị nơi quê nhà, tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng của một vùng than. Một vùng than từng đi qua mùa nước dữ, đã biết đứng dậy từ trong bùn đất và vẫn giữ nguyên điều quý giá nhất: Niềm tin vào con người.
Đó cũng là khuôn hình đẹp nhất mà Vùng than đã trao cho tôi - một người cầm máy may mắn được đi cùng những con người đã viết nên truyền thống "Kỷ luật và Đồng tâm" bằng chính mồ hôi, ý chí và tình yêu nghề của mình.