Những công trình mở đường cho tương lai ngành Than

Theo chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đến năm 2030, định hướng đến 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngành Than sẽ tập trung phát triển các mỏ hầm lò sản lượng lớn theo tiêu chí “Mỏ xanh, hiện đại, sản lượng cao, an toàn”. Đồng thời liên thông các mỏ sản lượng thấp có điều kiện địa chất, hạ tầng phù hợp thành mỏ sản lượng lớn, khai thác theo hướng bền vững, hiệu quả. Trong bối cảnh nhiều mỏ than ngày càng khai thác xuống sâu, điều kiện địa chất phức tạp, việc đầu tư các dự án trọng điểm chính là “chìa khóa” để TKV mở rộng diện sản xuất, bảo đảm tính liên tục trong sản xuất và đáp ứng nhu cầu than trong dài hạn.

bqn_tr_12.jpg
Khai thác than tại lò chợ Công ty Than Mạo Khê. Ảnh: Mạnh Hùng (CTV)

Mở rộng không gian khai thác

Mỏ Mạo Khê là nơi khai thác than đầu tiên của ngành Than Việt Nam. Sau hơn 70 năm khôi phục và phát triển, mỏ Mạo Khê đã ghi dấu bước chân của khoảng 25.000 thợ mỏ, đào gần 1.000km đường lò, khai thác hơn 70 triệu tấn than. Từ năm 2022 đến nay, Mạo Khê đã đánh dấu mốc son mới khi khai thác đạt sản lượng hơn 2 triệu tấn than/năm.

Thế nhưng, để duy trì quy mô sản xuất này, mỏ than Mạo Khê cũng đã và đang đối mặt với nhiều yếu tố đặc thù, bất lợi cho sản xuất như: Địa chất phức tạp, vách trụ vỉa yếu, xếp loại “siêu hạng” về khí mê-tan (CH4), nguy cơ cháy nội sinh và bục nước cao. Mỏ cũng đang khai thác xuống sâu tới mức -230m và chuẩn bị các diện khai thác mức -400. Đó còn chưa kể tới địa hình mỏ dưới hai suối Văn Lôi và Non Đông, quá trình khai thác thông lên bề mặt bị ngấm nước, chảy trực tiếp xuống các diện khai thác bên dưới.

Trong điều kiện đó, việc chuẩn bị các diện khai thác ở mức sâu hơn có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì sản xuất của mỏ. Công ty Than Mạo Khê đang triển khai dự án khai thác hầm lò xuống sâu từ mức -150m đến -400m, công suất 2 triệu tấn/năm, dự kiến hết năm 2026 hoàn thành xây dựng cơ bản và từ năm 2028 sẽ đạt công suất thiết kế 2 triệu tấn/năm.

Cùng với đầu tư phát triển diện khai thác, công ty tiếp tục triển khai các dự án về sàng tuyển, môi trường, tự động hóa tuyến băng tải, trạm quạt và những hạng mục liên quan, nhằm nâng cao hiệu quả vận hành, kiểm soát điều kiện sản xuất. Việc đầu tư đồng bộ các công trình này giúp đơn vị chủ động hơn trong tổ chức khai thác ở độ sâu lớn, nơi yêu cầu về an toàn và kỹ thuật ngày càng cao.

bqn_tr_6100abf3-15ec-4786-b291-55da2571d00bjpg.jpg
Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sàng tuyển than Mạo Khê (ngày 27/8/2026).

Không chỉ ở mỏ than Mạo Khê, quá trình chuyển đổi phương thức khai thác tại các đơn vị của TKV cũng đặt ra yêu cầu phải sớm hình thành những dự án thay thế để bổ sung năng lực sản xuất.

Năm 2023, thực hiện chủ trương chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”, Công ty Than Hòn Gai đã chuyển toàn bộ khai thác than lộ thiên sang khai thác hầm lò và tập trung đầu tư khai thác các mỏ hầm lò trong toàn bộ ranh giới được giao quản lý theo đúng quy hoạch. Trong đó, Dự án khai thác hầm lò phần mở rộng mỏ Hà Ráng là một công trình quan trọng cần được đầu tư để ra than trong giai đoạn 2021-2030.

Để duy trì và phát triển sản xuất theo đúng quy hoạch, tháng 8/2025, TKV đã khởi công Dự án khai thác hầm lò phần mở rộng mỏ Hà Ráng.

Dự án có công suất khai thác 900.000 tấn/năm với tổng mức đầu tư khoảng 1.413 tỷ đồng và được triển khai thực hiện trong 4 năm (2025-2029). Dự án hoàn thành sẽ sử dụng tối đa công nghệ vận chuyển bằng băng tải có hệ thống mái che và áp dụng tối đa việc tự động hóa trong công tác vận hành hệ thống băng tải.

Theo kế hoạch, đến quý I/2028, lò chợ đầu tiên sẽ được đưa vào khai thác, đóng góp cho ngân sách mỗi năm khoảng 230 tỷ đồng. Công ty Than Hòn Gai sẽ đầu tư, hoàn thành hệ thống xử lý nước thải hầm lò công suất 900 m³/giờ trước khi đưa dự án vào khai thác và tận dụng hạ tầng sẵn có, như nhà điều hành, nhà đèn, hệ thống băng tải vận chuyển, đường lò… của mỏ Hà Ráng trước đây, giúp tiết kiệm chi phí gần 500 tỷ đồng.

Với việc nghiên cứu áp dụng công nghệ cơ giới hóa trong công tác đào lò, khai thác, vận chuyển than và một số công đoạn sản xuất trong hầm lò và ngoài mặt bằng, dự án sẽ dần tiến tới mục tiêu “mỏ xanh, mỏ sạch, mỏ ít người".

bqn_tr_123.png
Khu vực mặt bằng sản xuất tại Dự án khai thác xuống sâu dưới mức -220 tại mỏ Bình Minh (Công ty Than Hòn Gai).

Ông Lê Trung Toán, Giám đốc Công ty Than Hòn Gai, cho biết: Dự án khai thác hầm lò phần mở rộng mỏ Hà Ráng mới chỉ là bước đệm. Hiện công ty đang tiến hành khảo sát và lập báo cáo, chuẩn bị đầu tư dự án liên thông, kết nối 3 mỏ Hà Ráng - Suối Lại - Bình Minh, phấn đấu khởi công vào năm 2030, phát triển xuống sâu đến mức -500m, công suất 2,5 triệu tấn/năm, trữ lượng công nghiệp 60 triệu tấn. Dự án này có ý nghĩa chiến lược, khẳng định tầm nhìn dài hạn trong việc nâng cao năng lực sản xuất, bảo đảm sự phát triển lâu dài, ổn định của Than Hòn Gai.

Việc nghiên cứu liên thông các mỏ cũng là hướng đi phù hợp với định hướng của TKV về hình thành những mỏ hầm lò sản lượng lớn, nâng cao hiệu quả khai thác và bảo đảm sự phát triển ổn định của ngành Than.

bqn_tr_anh-vang-danh.jpg
Thợ mỏ Than Vàng Danh vào ca sản xuất.

Tạo dư địa cho sản xuất dài hạn

Thực tế cho thấy, tại các mỏ lộ thiên, càng xuống sâu, khối lượng đất đá cần bóc xúc càng lớn, cự ly vận chuyển tăng, kéo theo chi phí sản xuất và yêu cầu về thiết bị, công nghệ ngày càng cao. Trong khi đó, đối với mỏ hầm lò, việc mở rộng khai thác xuống các mức sâu hơn đòi hỏi phải đầu tư đồng bộ hệ thống đường lò, thông gió, thoát nước, vận tải và công trình phục vụ sản xuất. Nếu không chủ động chuẩn bị diện khai thác mới, nguy cơ suy giảm sản lượng khi các khu vực hiện có dần kết thúc khai thác sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.

Đây cũng là cơ sở để TKV tập trung nguồn lực cho các dự án phát triển mỏ, đầu tư thiết bị và hoàn thiện hạ tầng sản xuất để tạo dư địa cho những giai đoạn dài hơn. Trong đó, Dự án khai thác hầm lò khu Tân Yên - mỏ Đông Tràng Bạch và Dự án khai thác hầm lò mỏ Đồng Vông là 2 công trình chiến lược được triển khai, nhằm bổ sung diện sản xuất, duy trì năng lực khai thác của Công ty Than Uông Bí trong những năm tới.

bqn_tr_294a8283.jpg
Lãnh đạo Công ty Than Uông Bí tặng quà, động viên công nhân Phân xưởng Khai thác đào lò 26 đang thi công Dự án khai thác hầm lò khu Tân Yên - mỏ Đông Tràng Bạch. Ảnh: Phạm Tăng

Cụ thể, Dự án khai thác hầm lò khu Tân Yên - mỏ Đông Tràng Bạch được khởi công vào tháng 8/2025 tại khu Tân Yên, phường Hoàng Quế với tổng mức đầu tư 1.201 tỷ đồng. Theo thiết kế, dự án có diện tích khu vực khai thác 3,52km², diện tích sử dụng 27,33ha; trữ lượng khoáng sản được phép đưa vào thiết kế khai thác đạt hơn 13 triệu tấn.

Dự án được đầu tư khai thác bằng công nghệ hầm lò, với tuổi thọ 24 năm, bao gồm cả thời gian xây dựng cơ bản. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để Than Uông Bí từng bước bổ sung diện sản xuất, duy trì ổn định sản lượng trong bối cảnh các khu vực khai thác hiện hữu ngày càng xuống sâu và điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn.

Sau hơn 1 năm triển khai, các hạng mục xây dựng cơ bản đang được tập trung thi công nhằm từng bước hình thành hệ thống đường lò phục vụ khai thác lâu dài. Tính đến hết tháng 9/2026, tổng khối lượng đào lò thực hiện lũy kế đạt 1.832/6.126m đường lò xây dựng cơ bản, tương đương khoảng 30% tổng khối lượng thiết kế. Đây là khối lượng quan trọng, tạo tiền đề để tiếp tục mở rộng các diện thi công, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất của dự án.

Ông Nguyễn Văn Hưng, Giám đốc Công ty Than Uông Bí, chia sẻ: Việc đẩy nhanh tiến độ Dự án khai thác hầm lò khu Tân Yên - mỏ Đông Tràng Bạch có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phát triển sản xuất lâu dài của đơn vị. Khi được hoàn thành và đưa vào khai thác ổn định, dự án sẽ bổ sung công suất 450.000 tấn than nguyên khai/năm, góp phần duy trì và gia tăng sản lượng than của công ty, chủ động chuẩn bị diện sản xuất kế tiếp và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên than đã được quy hoạch.

bqn_tr_6.jpg
Lễ khởi công Dự án khai thác hầm lò mỏ Đồng Vông tại khu Uông Thượng, phường Vàng Danh. Ảnh: Phạm Tăng

Dự án khai thác hầm lò mỏ Đồng Vông được khởi công tháng 12/2025 có tổng mức đầu tư 1.837 tỷ đồng, công suất thiết kế 600.000 tấn than nguyên khai/năm. Dự án được xem là một bước tiến trong việc áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến, hướng tới mô hình ‘Mỏ xanh, mỏ sạch, mỏ hiện đại, mỏ ít người” và là minh chứng rõ nét cho quyết tâm chính trị của TKV.

Khi dự án chính thức đi vào vận hành khai thác năm 2028, mỏ Đồng Vông sẽ trở thành nguồn cung than quan trọng bổ sung cho nền kinh tế, đóng góp trực tiếp vào ngân sách nhà nước, đồng thời tạo ra hàng nghìn việc làm ổn định với thu nhập cao cho người lao động địa phương.

Từ các dự án đang triển khai, có thể thấy việc chuẩn bị nguồn than của TKV được thực hiện theo lộ trình dài hạn, gắn với mục tiêu sản lượng toàn Tập đoàn. Với mục tiêu đạt sản lượng 48-50 triệu tấn than vào năm 2030, giai đoạn 2026-2030 TKV tiếp tục triển khai 18 dự án khai thác than, trong đó 13 dự án đang thực hiện đầu tư và 5 dự án trong giai đoạn chuẩn bị.

Sau năm 2030, TKV tiếp tục đầu tư các dự án theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhiều dự án quy mô lớn dự kiến được triển khai, như: Khai thác hầm lò phần lò giếng mức -50 đến -175 khu Cánh Gà, mỏ than Vàng Danh, công suất 800.000-1,2 triệu tấn/năm; khai thác lộ thiên mỏ Đông Lộ Trí, công suất 1,6-2,4 triệu tấn/năm; khai thác xuống sâu mỏ Hà Ráng - Suối Lại - Bình Minh (Công ty Than Hòn Gai) công suất 1,6-2,4 triệu tấn/năm; khai thác hầm lò xuống sâu mỏ Khe Chàm III - Khe Tam (Công ty Than Khe Chàm) công suất 2-3 triệu tấn/năm...

Cùng với các dự án khai thác, TKV tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống chế biến và hạ tầng phục vụ sản xuất. Đến năm 2030, Tập đoàn triển khai 4 dự án sàng tuyển, chế biến than; 6 dự án hạ tầng cảng, kho và 6 dự án băng tải trên địa bàn Quảng Ninh. Các dự án khi hoàn thành sẽ từng bước hoàn thiện chuỗi khai thác - sàng tuyển, chế biến - vận chuyển - kho cảng - tiêu thụ, nâng cao năng lực sản xuất, chế biến và cung ứng than.

Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng Giám đốc TKV, nhấn mạnh: Các dự án trọng điểm không chỉ tạo thêm năng lực khai thác, chế biến và cung ứng than, mà còn là bước chuẩn bị quan trọng cho sự phát triển lâu dài của ngành Than. Việc đầu tư đồng bộ từ phát triển mỏ đến hạ tầng chế biến, vận chuyển giúp Tập đoàn chủ động nguồn tài nguyên, duy trì sản lượng, đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia, đồng thời đẩy mạnh hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo đảm an toàn lao động. Đây cũng là nền tảng để ngành Than phát triển theo hướng bền vững, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, góp phần mở ra dư địa phát triển mới cho vùng than trong những năm tới.

Hoàng Nga

Cùng chuyên mục