Tháng 6/2026, Quảng Ninh công bố 5 quy hoạch: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075; Quyết định công nhận tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I; Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế ven biển Quảng Yên đến năm 2050 và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Việc công bố 5 quy hoạch chiến lược đã mở thêm cơ sở để Quảng Ninh tổ chức lại không gian phát triển, kết nối các động lực kinh tế và phát huy hiệu quả những lợi thế về biển, biên giới, di sản, đô thị và hạ tầng. Đây là nền tảng quan trọng để tỉnh mở rộng không gian tăng trưởng, nâng cao chất lượng đô thị và hướng tới những mục tiêu phát triển lớn hơn trong giai đoạn mới.
Điều chỉnh quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Vào ngày 16/6/2026, trong chương trình Kỳ họp thứ 4 (kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh Quảng Ninh khóa XV đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 23/NQ-HĐND về việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ngày 18/6/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2139/QĐ-UBND điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đó, Quảng Ninh nâng chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10% lên 12%/năm, phù hợp với vị thế cực tăng trưởng hàng đầu phía Bắc.
GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 phấn đấu đạt khoảng 20.000 USD; với tỷ lệ chiếm 30% GRDP, kinh tế số không còn là xu hướng mà trở thành định hướng xuyên suốt, gắn liền với hạ tầng số, dữ liệu số và chính quyền số.
Bên cạnh đó, cấu trúc không gian phát triển cũng có thay đổi đáng chú ý. Mô hình “Một tâm, hai tuyến đa chiều, hai mũi đột phá, ba vùng động lực” trước đó nay được thay bằng cấu trúc “3 hành lang phát triển - 4 vùng kinh tế xã hội - 5 trung tâm động lực phát triển”, tổ chức theo không gian chức năng. Cụ thể, 3 hành lang gồm đô thị ven biển, biển đảo, sinh thái đồi núi; 4 vùng kinh tế được phân vai rõ theo lợi thế từng khu vực; 5 trung tâm động lực (đô thị trung tâm Hạ Long, đặc khu Vân Đồn, Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái, Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Khu di sản văn hóa thế giới Yên Tử), mỗi nơi có một nhiệm vụ trọng tâm, từ kinh tế số đến thương mại tự do quốc tế, từ cửa ngõ biên giới đến cực văn hóa di sản.
Quảng Ninh cũng bổ sung những mô hình tăng trưởng mới phù hợp: Kinh tế biển xanh, kinh tế đêm, kinh tế không gian tầm thấp, mô hình TOD (chiến lược quy hoạch và phát triển đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng) gắn đô thị với giao thông công cộng.
Ba đột phá chiến lược là hạ tầng đa phương thức (trọng tâm là đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh), nhân lực chất lượng cao và cơ chế sandbox cho các mô hình kinh tế chưa có tiền lệ.
Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075
Theo Quyết định số 1123/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 có phạm vi toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh với 54 đơn vị hành chính cấp xã; phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Nam giáp TP Hải Phòng, phía Đông giáp biển và phía Tây giáp các tỉnh Bắc Ninh, Lạng Sơn. Quy mô quy hoạch khoảng 6.232,4km² đất liền và phần diện tích biển theo ranh giới hành chính của tỉnh; thời hạn quy hoạch ngắn hạn đến năm 2040, dài hạn đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075.
Quy hoạch xác định phát triển Quảng Ninh thành đô thị hiện đại, thông minh, xanh, bền vững; là cực tăng trưởng quốc gia, tạo động lực phát triển vùng, có sức lan tỏa và khả năng cạnh tranh quốc tế. Tỉnh phát triển tích hợp đô thị - biển - di sản thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh; hướng tới trở thành trung tâm kinh tế biển, công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hóa, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiện đại, kinh tế di sản, kinh tế đêm, kinh tế đô thị của quốc gia; hình thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật cấp vùng, điểm đến hấp dẫn của khu vực châu Á và thế giới, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Về cấu trúc không gian, Quảng Ninh phát triển theo mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng, đa lớp, tích hợp biển, đảo, biên giới và di sản. Không gian gồm 3 hành lang phát triển: Hành lang đô thị ven biển, hành lang biển đảo, hành lang sinh thái đồi núi; 4 phân vùng kinh tế - xã hội: Vùng đô thị phía Tây (Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Đông Triều, Uông Bí), vùng đô thị phía Đông (Móng Cái, Quảng Hà, Đầm Hà, Tiên Yên), vùng đô thị biển đảo (Vân Đồn, Cô Tô, vịnh Hạ Long) và vùng đồi núi phía Bắc; cùng 5 trung tâm động lực phát triển: Hạ Long, Móng Cái, Vân Đồn, Quảng Yên và Di sản Yên Tử - vịnh Hạ Long.
Về hệ thống đô thị, đến năm 2030, Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I; hệ thống gồm các đô thị loại II (Hạ Long, Cẩm Phả, Quảng Yên, Uông Bí, Đông Triều, Móng Cái, Vân Đồn) và đô thị loại III (Quảng Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Bình Liêu, Ba Chẽ, Cô Tô). Đến năm 2050, tỉnh có 14 đô thị được tổ chức bài bản, phát triển đô thị đa mục tiêu theo mô hình TOD, tối ưu hóa hạ tầng giao thông công cộng gắn với dịch vụ thương mại.
Lộ trình thực hiện gồm 4 giai đoạn: 2026-2030 hoàn thiện khung pháp lý quy hoạch, hạ tầng kết nối chiến lược và thu hút đầu tư các dự án động lực; 2030-2040 hoàn thiện chuỗi đô thị ven biển (Quảng Yên, Cẩm Phả, Quảng Hà, Móng Cái), tạo đột phá cho Khu kinh tế Vân Đồn; 2040-2050 mở rộng, hoàn thiện mạng lưới đô thị toàn tỉnh, tích hợp hệ thống giao thông công cộng vùng; ngoài năm 2050 hoàn thiện không gian đô thị hiện đại, hài hòa thành thị - nông thôn, bảo đảm bền vững sinh thái.
Quyết định công nhận tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại 1
Theo Quyết định 1026/QĐ-BXD, ngày 26/6/2026 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, tỉnh Quảng Ninh đã chính thức được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại 1. Quyết định này được đưa ra dựa trên các căn cứ pháp lý quan trọng gồm: Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 (sửa đổi bởi Luật số 144/2025/QH15), Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị, các Nghị định số 35/2026/NĐ-CP và Nghị định số 33/2025/NĐ-CP của Chính phủ, kết hợp với Tờ trình số 2690/TTr-UBND cùng văn bản giải trình số 2707/UBND-XDMT của UBND tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo thẩm định số 245/BC-HĐTĐLN của Hội đồng thẩm định liên ngành và đề nghị của Cục trưởng Cục Phát triển đô thị.
Phạm vi ranh giới công nhận đô thị loại I bao trùm toàn bộ địa giới hành chính tỉnh Quảng Ninh, với diện tích đất tự nhiên là 6.231,27km² và quy mô dân số năm 2025 đạt 1.523.400 người. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành; nhiệm vụ tổ chức thực hiện được giao cho Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị cùng Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm.
Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế ven biển Quảng Yên đến năm 2050
Theo Quyết định số 828/QĐ-TTg, ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ chính thức phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế ven biển Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2050, phạm vi lập quy hoạch bao gồm diện tích khoảng 13.303ha, được phân chia thành hai khu vực chính là Phân vùng 1 ở phía Bắc và Phân vùng 2 ở phía Nam. Mục tiêu chiến lược của quy hoạch là xây dựng một trung tâm kinh tế biển đa ngành hiện đại, đóng vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng cho tỉnh Quảng Ninh cũng như toàn vùng duyên hải Bắc Bộ.
Khu kinh tế ven biển Quảng Yên được định hướng phát triển theo mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến, chú trọng yếu tố xanh, thông minh và đảm bảo bền vững với môi trường tự nhiên. Cấu trúc không gian của khu vực được tổ chức thành ba phân khu chức năng chính với những định hướng phát triển đặc thù. Phân khu 1 tập trung vào các loại hình công nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghiệp sạch kết hợp với hệ thống cảng thủy nội địa và các khu đô thị hỗn hợp. Phân khu 2 ưu tiên phát triển công nghiệp đa ngành cùng các trung tâm dịch vụ, giáo dục và đô thị thông minh tại khu vực Đông Nam sông Cồn Khoai. Phân khu 3 là nơi tập trung các dịch vụ cảng biển, logistics và phát triển du lịch sinh thái gắn liền với hệ thống sông rạch.
Về quy mô dân số, dự kiến khu kinh tế sẽ đạt khoảng 90.000 người vào năm 2035 và tăng lên khoảng 170.000 người vào năm 2050. Hạ tầng kinh tế được chú trọng thông qua việc hoàn thiện các khu công nghiệp trọng điểm hiện có như Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong, Bạch Đằng và Sông Khoai. Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ logistics và các trung tâm thương mại hạng I sẽ được hình thành để phục vụ nhu cầu giao thương quốc tế.
Quy hoạch cũng dành quỹ đất thích đáng cho các công trình hạ tầng xã hội như bệnh viện đa khoa quốc tế, các cơ sở đào tạo đại học và viện nghiên cứu tại đô thị Đông Mai. Hệ thống giao thông sẽ được nâng cấp đồng bộ với các tuyến cao tốc Hải Phòng - Hạ Long, đường sắt Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái và mạng lưới đường thủy nội địa. Các yếu tố kỹ thuật như điện, nước sẽ được quản lý thông minh và ưu tiên sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường. Công tác bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và hệ sinh thái rừng ngập mặn luôn được kết hợp chặt chẽ trong quá trình triển khai các dự án xây dựng nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự xã hội.
Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Theo Quyết định số 753/QĐ-BXD, ngày 19/5/2026 về việc phê duyệt quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định đây là cảng hàng không quốc tế cấp 4E, tọa lạc tại đặc khu Vân Đồn, với tính chất sử dụng chung cho cả mục đích dân dụng và quân sự. Trong giai đoạn từ năm 2021 đến 2030, cảng hướng tới mục tiêu đạt công suất khoảng 2,5 triệu hành khách và 5.000 tấn hàng hóa mỗi năm, đảm bảo khai thác các loại tàu bay thân rộng như A350, B747 và B777 dựa trên hệ thống hạ tầng hiện hữu bao gồm một đường cất, hạ cánh, 8 vị trí đỗ máy bay và nhà ga hành khách T1.
Tầm nhìn đến năm 2050, quy hoạch dự kiến mở rộng quy mô lên tới 20 triệu hành khách và 200.000 tấn hàng hóa hàng năm thông qua việc xây dựng bổ sung đường cất, hạ cánh số 2, nâng tổng số vị trí đỗ máy bay lên khoảng 34 và phát triển thêm 2 nhà ga hành khách mới là T2 và T3. Để phục vụ sự phát triển này, hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng được nâng cấp đồng bộ với các tuyến đường trục kết nối trực tiếp vào khu kinh tế, đồng thời duy trì và bổ sung các hệ thống bảo đảm hoạt động bay hiện đại như đèn hiệu CAT II, thiết bị hạ cánh ILS và hệ thống quan trắc khí tượng tự động. Tổng diện tích đất quy hoạch phục vụ cho các mục tiêu này dự kiến tăng từ khoảng 390,42ha trong giai đoạn 2021-2030 lên mức 488,89ha vào năm 2050.