“Vàng ở trên tay”, đó chính là những giá trị văn hóa truyền thống quý giá của đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Ninh đã được tích lũy qua nhiều đời, vẫn được bảo tồn, gìn giữ và hiện diện trong đời sống hôm nay. Qua đánh giá của chuyên gia Nhật Bản khi đến khảo sát khu vực vùng cao Quảng Ninh thì với du khách nước ngoài, cơ hội trải nghiệm văn hóa các dân tộc thiểu số, trải nghiệm cuộc sống gắn liền với cảnh quan núi non và môi trường thiên nhiên phong phú xung quanh, trải nghiệm những nét đặc trưng vùng biên giới là điều rất đáng giá…
“Vàng ở trên tay”
Ở khu vực các xã Bình Liêu, Lục Hồn và Hoành Mô nơi các chuyên gia Nhật Bản tới khảo sát vốn có đông đồng bào nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, như người Dao, người Tày và người Sán Chỉ. Mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của riêng mình, từ nhà ở, trang phục, đồ gia dụng, công cụ lao động sản xuất truyền thống, nếp ăn, nếp ở, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, văn nghệ dân gian, văn hóa ẩm thực cũng như ngôn ngữ riêng.
Đồng bào Tày có nghệ thuật hát Then, trình diễn đàn Tính, đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, người Sán Chỉ thì có những làn điệu Soóng Cọ, người Dao có lễ cấp sắc, có hát Pả Dung… đều là những nét riêng độc đáo. Đồng bào còn có nghề trồng và sản xuất miến dong, cũng có nhiều tri thức về các bài thuốc dân gian, các loại cây dược liệu…
Một vùng biên giới tươi đẹp với những rừng hồi, sở, quế ngát hương, những dãy núi trùng điệp kỳ vĩ, những phiên chợ vùng cao đậm đà bản sắc và đời sống văn hóa sinh động, phong phú của các dân tộc thiểu số là điều khiến du khách phương xa yêu mến, tò mò khám phá. Câu chuyện ấy, nét đẹp ấy không chỉ là câu chuyện riêng của Bình Liêu, Lục Hồn và Hoành Mô mà còn là câu chuyện của nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số khác ở Quảng Ninh.
Theo thống kê, Quảng Ninh hiện có 42 thành phần dân tộc thiểu số với tổng số trên 162.000 người, chiếm 12,31% tổng số dân cư trên địa bàn và sinh sống chủ yếu ở các địa phương miền núi, vùng cao, biên giới. Trong đó có 5 dân tộc thiểu số có số lượng hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét là: Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay (gồm 2 nhóm Sán Chỉ và Cao Lan), Hoa. Quá trình cư trú lâu đời tại Quảng Ninh, đồng bào các dân tộc quần cư thành cộng đồng làng, xã và lưu truyền văn hóa truyền thống qua nhiều đời.
Sức sống mới cho di sản
Thực tế, đã có một thời gian dài nhiều giá trị văn hóa của đồng bào bị thất truyền, mai một vì nhiều lý do khác nhau. Tuy nhiên, từ khoảng đầu những năm 2000 trở lại đây thì nhiều giá trị văn hóa đã được Quảng Ninh quan tâm, phục dựng, mang lại sức sống mới cho các di sản của đồng bào. Đầu tiên phải kể tới việc phục dựng bài bản, thể hiện bản sắc truyền thống các dân tộc đối với các lễ hội, như: Lễ hội đình Lục Nà, lễ hội đình Làng Dạ, lễ hội làng Bằng Cả… Không gian các lễ hội mở rộng với sự tham gia nồng nhiệt của đồng bào khiến những dịp này thực sự trở thành ngày hội của đông đảo các dân tộc trên địa bàn. Từ đây, nhiều sinh hoạt văn hóa truyền thống được phổ biến trở lại, được lan tỏa, duy trì. Đây cũng là cơ sở cho việc các địa phương tiếp tục gìn giữ, phát huy giá trị các lễ hội gắn với tổ chức các ngày hội văn hóa - thể thao các dân tộc.
Sau này, nhiều lễ hội mới như lễ hội hoa Sở, lễ hội trà Hoa vàng, hội Mùa vàng… được tổ chức gắn với thế mạnh, đặc thù các địa phương nhưng có điểm chung là khơi dậy, lan tỏa nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Giờ đây, khi mô hình chính quyền cấp huyện không còn, các xã, phường được trao quyền lớn hơn, trực tiếp hơn thì số lượng lễ hội được tổ chức gắn với phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, trong đó có các giá trị văn hóa của đồng bào vùng dân tộc thiểu số, ngày càng nở rộ, gắn với du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Tôn vinh các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, trong những năm qua, Quảng Ninh đã xây dựng hồ sơ và đưa nhiều di sản văn hóa phi vật thể vào danh mục của quốc gia. Hiện Quảng Ninh có 19 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có nhiều di sản của cộng đồng các dân tộc thiểu số, như: Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ; Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soọng Cô của người Sán Dìu; Tục Kiêng gió của người Dao; Lễ cấp sắc của người Dao Thanh Y; Lễ mừng cơm mới của người Tày; Tri thức dân gian về nghệ thuật may trang phục truyền thống của người Sán Chỉ; Tri thức dân gian nghệ thuật may và trang trí trang phục người Dao Thanh Phán; Tập quán xã hội và tín ngưỡng Lễ hội Cầu mùa của người Sán Chỉ. Đặc biệt, di sản Then Tày, Nùng, Thái còn được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đây là tài sản vô giá trong kho tàng văn hóa các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh.
Cùng với đó, nhiều nghệ nhân là người dân tộc thiểu số đã được vinh danh là Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân dân gian trong các lĩnh vực như: hát Then, đàn tính, hát Soóng cọ, hát Soọng cô, may thêu trang phục truyền thống, thực hành nghi lễ cấp sắc… Đây là sự ghi nhận, cũng là niềm động viên, khích lệ để các nghệ nhân tiếp tục gìn giữ, trao truyền cho thế hệ sau những di sản văn hóa của cha ông. Vì vậy, không hiếm để bắt gặp những lớp dạy hát, dạy thêu… mà người học thuộc nhiều lứa tuổi, trong đó có cả những em thiếu nhi.
Gắn với phát triển du lịch cộng đồng
Xác định để di sản sống trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số một cách bền vững, bên cạnh các giải pháp bảo tồn, tôn vinh, Quảng Ninh đã triển khai nhiều giải pháp để biến di sản thành “tài sản” thông qua việc gắn kết với phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng.
Đến nay, nhiều địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã hoàn thành việc xây dựng các làng văn hóa, như: Làng văn hóa Dao Thanh Y tại xã Quảng La, phường Yên Tử hay làng văn hóa Sán Dìu tại đặc khu Vân Đồn. Từ trước đó là việc đầu tư xây dựng Trung tâm Văn hóa - Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc. Những không gian này cùng với việc lưu giữ ký ức văn hóa truyền thống còn hứa hẹn trở thành một điểm du lịch văn hóa, giới thiệu tới du khách vẻ đẹp các nghi lễ truyền thống, trang phục, trò chơi dân gian, ẩm thực đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn khuyến khích người dân địa phương tham gia vào việc gìn giữ và khai thác di sản thông qua các mô hình homestay, dịch vụ du lịch cộng đồng, bán hàng OCOP, trình diễn lễ hội truyền thống... Cho tới nay, ở nhiều xã, phường, đặc khu nơi vùng cao, biên giới, hải đảo đã xuất hiện không ít những mô hình làm du lịch cộng đồng gắn với khai thác nét văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số, từ nhà ở, cách thức trang trí, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, lễ hội. Có thể kể tới như: Bình Liêu farmstay, Khe Tiền house, Homestay A Dào, homestay Hoàng Sằn tại xã Hoành Mô, Làng Dao quê em tại phường Yên Tử, Kỳ Thượng Am Váp farm tại xã Kỳ Thượng, Mằn’s farm tại xã Thống Nhất…
Xin trở lại với câu chuyện của các chuyên gia Nhật đã nói tới ở phía trên. Khi đến với 3 xã vùng cao của Quảng Ninh để hỗ trợ các địa phương nâng cao chất lượng chương trình du lịch cộng đồng, các chuyên gia đã có những gợi ý đơn giản mà sâu sắc: Người dân địa phương chính là chủ thể của hoạt động du lịch cộng đồng. Hãy mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình để chào đón du khách. Trên đường di chuyển, hãy giới thiệu và giải thích về các loài cây ăn được, cây dược liệu cùng những loại thực vật đặc trưng mọc trong khu vực… Người dân sống ở đây từ lâu nên có thể cảm thấy những cảnh quan, phong tục hay nếp sống hằng ngày là điều bình thường. Nhưng đối với du khách, đó lại là những trải nghiệm rất mới mẻ và hấp dẫn. Bà con đang sở hữu những giá trị mà không phải nơi nào cũng có được. Ngay cả những sinh hoạt đời thường hay tập quán quen thuộc cũng có thể trở thành trải nghiệm đáng nhớ đối với du khách…
Như thế cho thấy, những nét văn hóa bản địa chính là vốn quý mà đồng bào cần gìn giữ và giới thiệu tới du khách. Không chỉ vậy, những du khách Nhật khi trải nghiệm chương trình cũng bày tỏ tương tự: Thật tuyệt khi có thể cảm nhận được cuộc sống đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số. Các hoạt động được tham gia cùng người dân địa phương là điều thú vị nhất. Thông qua những hoạt động cùng thực hiện, đây là cơ hội quý giá để giao lưu và rút ngắn khoảng cách với bà con. Nơi đây có khoảng 5 ngôi nhà truyền thống, nếu có thể di chuyển vừa phải và tham quan thêm 2 - 3 ngôi nhà để tìm hiểu sự khác biệt và đặc điểm của từng ngôi nhà cũng là một ý tưởng hay. Có thể bổ sung trải nghiệm làm nhà truyền thống, chẳng hạn như trải nghiệm làm đất làm tường, tre làm mái và ngói lợp. Đối với trải nghiệm làm xôi ngũ sắc, sẽ tốt hơn nếu có thể tham gia thu hái và phân loại lá, cũng như tạo màu cho gạo nếp. Ngoài ra, có thể bổ sung các hoạt động như nhóm lửa và mặc thử trang phục truyền thống…
Những suy nghĩ gần gũi, chân thật này là cơ sở cho thấy, vốn văn hóa truyền thống, bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Bình Liêu, Hoành Mô và Lục Hồn nói riêng và toàn tỉnh nói chung hoàn toàn có thể chinh phục du khách mà không cần thay đổi hay đánh mất đi những giá trị tự thân. Và như thế, chúng ta có thể kỳ vọng di sản của đồng bào không chỉ có sức sống trong đời sống đương đại, mà còn giúp bà con nâng cao sinh kế trên chính mảnh đất quê hương.