Một ca lao động ở Vàng Danh bắt đầu bằng những bước chân đeo ủng rầm rập của thợ lò đổ về nhà giao ca. Có đồng hành cùng những người thợ lò của Công ty CP Than Vàng Danh - Vinacomin, mới hiểu hết được sự vất vả của những người đang lặng lẽ khơi dòng than đen óng đang nằm im lìm trong lòng đất.
Đã vào lò là gửi gắm lòng tin
Trước khi vào cửa lò, người thợ đến khu vực nhà đèn và khu cấp phát bảo hộ lao động. Mỗi người thợ được trang bị quần áo dày, ủng cao su lội nước, mũ bảo hộ cứng cáp, khẩu trang lọc độc, đèn lò gắn trên mũ cùng bình tự cứu cá nhân. Cầm chiếc bình tự cứu nặng trịch, tôi hiểu đào lò quả là một công việc đối diện với nhiều thử thách.
Lối vào lò hầm hập một luồng không khí nóng ẩm, mùi của bụi than, mùi dầu mỡ của các hệ thống máy móc băng tải và cả mùi mồ hôi mặn chát. Chúng tôi bước lên những toa xe chuyên dụng chở người, hệ thống tời cáp bắt đầu chuyển động, đưa đoàn người lao dốc vào lòng đất. Ánh sáng tự nhiên lùi dần, lùi dần rồi tắt hẳn phía sau lưng. Thay vào đó là một màu đen thăm thẳm, chỉ được thắp sáng bởi những luồng ánh sáng đơn độc từ chiếc đèn lò gắn trên mũ bảo hộ.
Càng xuống sâu, áp suất không khí càng thay đổi rõ rệt. Tai tôi bắt đầu có cảm giác ù đi. Nhiệt độ trong lò mùa hè nóng bức hơn. Tuy nhiên, dưới bàn tay bền bỉ của người thợ, những mét lò cứ dài ra. Nhìn những thanh vì kèo thép vững chãi ở vòm lò, gồng mình gánh đỡ hàng triệu tấn đất đá, tôi mới thấu hiểu sự dũng cảm của những con người đang ngày đêm làm việc dưới mái đá này.
Trong chuyến đi này, tôi được gặp thợ lò Dương Văn Nghĩa, Phân xưởng Khai thác 12 (KT12). Xa những cánh đồng lúa quê hương Hải Dương (nay là Hải Phòng) để ra Quảng Ninh, dấn thân vào học nghề khai thác mỏ hầm lò, tháng 3 năm 2006, anh chính thức công tác tại Vàng Danh. Đến nay, anh đã có tròn hai mươi năm gắn bó với nghề.
Phân xưởng KT12, nơi anh Dương Văn Nghĩa công tác là một trong những đơn vị khai thác than hầm lò có khối lượng sản xuất lớn nhất công ty, nhưng có điều kiện địa chất vô cùng phức tạp, đòi hỏi yêu cầu rất cao về mặt kỹ thuật và đặc biệt là an toàn lao động. Anh Nghĩa hiểu sâu sắc rằng, môi trường hầm lò luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao như sập đổ gương, bục nước hay khí độc. Công tác an toàn vệ sinh lao động không bao giờ là những khẩu hiệu sáo rỗng, mà nó chính là nguyên tắc sống còn.
Anh Nghĩa chia sẻ với tôi bằng chất giọng trầm ấm: “Ở dưới này, một sơ suất nhỏ của mình không chỉ trả giá bằng máu của bản thân, của anh em đồng đội. Đã vào lò là phải gửi gắm lòng tin cho nhau, phải coi nhau như ruột thịt. Mình bảo vệ anh em cũng chính là bảo vệ mình”. Kỷ luật thép ấy đã giúp ca sản xuất, tổ sản xuất của anh nhiều năm liền không để xảy ra bất kỳ một vụ tai nạn lao động hay sự cố nghiêm trọng nào.
Chạy đua với thiên tai, dịch bệnh
Hành trình phát triển của Than Vàng Danh không bằng phẳng trải đầy hoa hồng, mà đó là một chuỗi những thử thách bản lĩnh của người thợ. Có những thời khắc nghẹt thở, những giai đoạn cam go tưởng chừng như có thể làm đứt gãy cả một chuỗi sản xuất. Đó là năm 2021, khi Covid-19 bùng phát dữ dội và ca nhiễm đầu tiên trong toàn ngành Than xuất hiện ngay chính tại Vàng Danh.
Thời điểm ấy, bóng đen của dịch bệnh hoành hành khắp nơi. Nỗi lo sợ về sự lây nhiễm diện rộng và nguy cơ đứt gãy sản xuất bao trùm lên hàng ngàn công nhân công ty khi toàn bộ các biện pháp cách ly, phong tỏa diện rộng phải triển khai ngay lập tức.
Ông Nguyễn Văn Vũ, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Công ty, nhớ lại những ngày tháng đầy áp lực ấy với ánh mắt chưa hết bàng hoàng: “Có thời điểm khoảng 40% sản lượng của Công ty phải dừng sản xuất hoàn toàn do công nhân phải cách ly. Đối với một mỏ hầm lò lớn như Vàng Danh, việc dừng sản xuất diện rộng là một thảm họa. Nếu không có những giải pháp kịp thời và khoa học thì nguy cơ ảnh hưởng vô cùng lớn đến hoạt động sống còn và trực tiếp tác động tiêu cực đến đời sống, thu nhập của hàng nghìn gia đình công nhân”.
Trong bối cảnh cực kỳ ngặt nghèo, khi chưa hề có bất kỳ một tiền lệ nào về việc xử lý, kiểm soát dịch bệnh trong môi trường khai thác hầm lò chật hẹp, Than Vàng Danh đã nhanh nhạy triển khai phương án sàng lọc, phân loại rõ ràng các đối tượng F0, F1, F2 để đưa ra chiến lược vừa kiểm soát triệt để dịch bệnh, vừa duy trì tối đa việc sản xuất. Đây được xem là một mô hình rất mới, một bước đi đột phá vào thời điểm đó. Tận dưới lò sâu, thông tin về phòng chống dịch được cập nhật liên tục từng giờ.
Anh Nguyễn Trung Tín, Bí thư Đoàn Thanh niên Công ty, chia sẻ về những kỷ niệm không thể nào quên: “Thời điểm đó, đội thanh niên xung kích gần như hoạt động với 200% công suất, không có ngày nghỉ hay giờ nghỉ. Anh em tham gia tuyên truyền phòng chống dịch, hỗ trợ đo thân nhiệt, phát khẩu trang, khử khuẩn cho công nhân trước khi xuống lò”.
Ông Nguyễn Văn Vũ tự hào: “Năm đó ai cũng nghĩ Vàng Danh sẽ vỡ trận về sản lượng và đời sống công nhân sẽ bị ảnh hưởng nặng nề lắm. Nhưng cuối cùng, nhờ có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và quyết tâm cao độ, không một người lao động nào bị mất việc, không ai phải chịu thu nhập thấp. Sản lượng của năm ấy không những đạt mà còn vượt kế hoạch đề ra”.
Khi những ký ức khó khăn từ đại dịch Covid-19 dần lùi xa vào quá khứ, những tưởng con đường phía trước sẽ bớt phần gập ghềnh thì vào cuối năm 2024, một thử thách khác lại ập đến: Siêu bão Yagi. Cơn bão lịch sử này làm cho cả hai mỏ khai thác than hầm lò chính, huyết mạch sản xuất của Vàng Danh đều bị nước lũ từ các triền núi dâng cao tràn cuồn cuộn vào. Ông Vũ kể lại: “Nước lũ cuồn cuộn tràn xuống các đường lò sâu với tốc độ chóng mặt. Hệ thống lưới điện quốc gia và điện nội bộ hoàn toàn gặp sự cố do gió bão đánh hỏng. Máy phát điện dự phòng tại chỗ không thể hòa đồng bộ được do điều kiện ngập lụt, dẫn đến toàn bộ hệ thống bơm thoát nước hầm lò công suất lớn không thể vận hành. Nguy cơ toàn bộ các đường lò dưới tầng sâu bị nhấn chìm hoàn toàn trong nước lũ hiển hiện ngay trước mắt”.
Nước dâng nhanh từng centimet, nhấn chìm trang thiết bị, máy móc đắt tiền, khiến toàn bộ khu vực sản xuất dưới lòng đất gần như bị tê liệt hoàn toàn. Nguy cơ thiệt hại hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng và thời gian khôi phục kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm hiện hữu rõ rệt, đe dọa trực tiếp đến sinh kế của hàng ngàn con người. Trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc ấy, Than Vàng Danh đã kích hoạt báo động đỏ, huy động tổng lực mọi phương tiện kỹ thuật và nhân lực có trong tay để thực hiện chiến dịch cứu mỏ.
Suốt nhiều ngày đêm ròng rã không ngủ, dưới trời mưa tầm tã và điều kiện thiếu ánh sáng, hàng trăm cán bộ kỹ thuật và những người thợ mỏ quả cảm đã thay nhau túc trực 24/24 giờ tại hiện trường, bám trụ bên những miệng lò, tập trung mọi giải pháp từ khắc phục sự cố điện, dòng dây cáp, đấu nối các đường ống bơm dã chiến để thoát nước cứu lò.
Anh hùng Lao động Phạm Đình Duẩn, Phó Trưởng phòng Điều khiển sản xuất, lúc đó còn công tác ở Phân xưởng KT14, nhớ lại: “Nhiều đêm liên tiếp sau khi bão tan, công nhân chúng tôi thay nhau túc trực. Không ai thấy mệt mỏi. Ai cũng hiểu sâu sắc một điều rằng, trong cuộc chạy đua này, nếu chúng tôi chậm trễ dù chỉ một giờ, một phút, nước lũ sẽ lấn sâu hơn, các đường lò dưới tầng sâu sẽ bị sập đổ hoàn toàn, thiệt hại sẽ là khôn lường và mỏ có thể phải đóng cửa rất lâu mới khôi phục lại được”.
Cuộc chạy đua với thời gian, với thủy thần diễn ra trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn đủ bề từ ánh sáng, nước uống cho đến nguy cơ sạt lở rình rập. Nhưng với tinh thần thép của những người chiến sĩ thợ mỏ, kỳ tích một lần nữa lại xuất hiện tại Than Vàng Danh. Chưa đầy một tháng sau bão, toàn bộ khối lượng nước khổng lồ tràn vào hầm lò đã được bơm ngược ra ngoài mặt đất một cách an toàn, hệ thống điện, thông gió được khôi phục, các mỏ hầm lò chính thức trở lại hoạt động bình thường trong sự vỡ òa hạnh phúc của hàng ngàn con người. Điều đáng quý hơn cả là dù phải gánh chịu những tổn thất vật chất vô cùng lớn do thiên tai gây ra, sản lượng khai thác than của Công ty trong năm đó chỉ bị hụt ở một mức độ vô cùng nhỏ so với quy mô tàn phá của bão. Và trên hết, điều quan trọng nhất là đời sống, việc làm và thu nhập của người lao động vẫn được bảo đảm, tinh thần của anh em không hề bị lung lay.
Đứng dưới những đường lò hôm nay, tôi cảm nhận được ý chí của con người đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của đại dịch của thiên tai. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thợ mỏ Vàng Danh luôn đoàn kết vô song, sự sẻ chia hoạn nạn có nhau và một ý chí sắt đá, quyết tâm không bao giờ để sản xuất bị gián đoạn, không để nhịp lò bị dập tắt. Giữa những đường lò hun hút sâu thẳm, dòng than đen vẫn không ngừng tuôn chảy trên hệ thống băng tải, ngược lên mặt đất để thắp sáng cho những công trình phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phía sau nhịp lò không bao giờ tắt máy ấy là câu chuyện của sự kiên cường, lòng quả cảm và tình yêu nghề cháy bỏng của những người thợ mỏ.