Duy trì nguồn cung cấp nước ổn định trong giai đoạn chuyển tiếp

Từ tháng 7/2026, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh tiếp nhận 15 công trình cấp nước nông thôn. Việc bàn giao nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đưa tỷ lệ người dân vùng nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo được tiếp cận và sử dụng nước sạch sinh hoạt lên 85%. Để hiểu rõ hơn về hiện trạng hạ tầng, các giải pháp kỹ thuật đã thực hiện, cũng như lộ trình cấp nước ổn định cho người dân trong thời gian tới, phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Ninh đã phỏng vấn ông Trịnh Văn Bình, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh.

3.jpg
Ông Trịnh Văn Bình, Phó Tổng giám đốc Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh

- Xin ông cho biết về hiện trạng hạ tầng của 15 công trình cấp nước khi công ty mới tiếp nhận?

+ Về quá trình tiếp nhận, chúng tôi thực hiện theo đúng lộ trình chỉ đạo của thành phố đối với 15 công trình cấp nước nông thôn. Trong đó, 4 công trình do Công ty Thủy lợi Yên Lập chuyển giao (nhà máy nước Tân Bình, Đông Ngũ, Hải Lạng và hệ thống cấp nước khu vực Quảng Minh). 11 công trình còn lại do các xã, phường quản lý chuyển giao, phân bổ tại nhiều khu vực, như nhà máy nước Nguyễn Huệ, Bình Dương, Thủy An (phường Đông Triều); nhà máy nước Hoàng Quế (phường Hoàng Quế); nhà máy nước Hiệp Hòa, Sông Khoai (phường Quảng Yên); Hoành Mô, Bình Liêu, Hải Ninh, Cô Tô, Cái Chiên... Chúng tôi nhận bàn giao tạm thời từ ngày 20/7/2026 và đến cuối tháng 10, các quyết định bàn giao chính thức đã được ban hành.

Khi bắt tay vào tiếp nhận và rà soát, chúng tôi nhận thấy hiện trạng của phần lớn các công trình này đã xuống cấp khá nhiều. Do đã hoạt động lâu năm, nhiều hạng mục máy móc không được duy tu, bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả. Hệ thống xử lý chưa được nâng cấp đồng bộ nên chất lượng nước đầu ra trước khi bàn giao chưa đạt quy chuẩn của Bộ Y tế. Đường ống ở nhiều nơi bị vỡ, hoặc rò rỉ, khiến tỷ lệ thất thoát rất cao, dao động ở mức 30-65%.

Trước thực trạng đó, ngay khi tiếp nhận, chúng tôi đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ hệ thống xử lý nước, bảo dưỡng các máy móc thiết bị, thay thiết bị hỏng và điều chỉnh công nghệ xử lý nước với mong muốn lớn nhất là duy trì nguồn cung ổn định, đảm bảo chất lượng nước theo quy chuẩn 01/2024 của Bộ Y tế, không để người dân bị thiếu nước sinh hoạt hoặc sử dụng nước không đảm bảo chất lượng trong giai đoạn chuyển tiếp.

- Sau khi sửa chữa, bảo dưỡng, đến nay việc cung cấp nước tại các địa bàn này đã có những chuyển biến cụ thể nào về chất lượng nước, cũng như số lượng hộ dân được phục vụ, thưa ông?

+ Thay đổi lớn nhất và đáng mừng nhất là chất lượng nước cấp ra hiện nay đã hoàn toàn đạt quy chuẩn của Bộ Y tế, người dân ở các khu vực tiếp nhận đều rất phấn khởi. Với những khu vực gần mạng lưới cấp nước đô thị, chúng tôi đã đấu nối để đưa nước sạch từ hệ thống cấp nước đô thị về phục vụ người dân nông thôn.

Nổi bật, tại khu vực Hoàng Quế, Sông Khoai, trước đây người dân dùng nguồn nước do xã quản lý. Nguồn nước sông thường bị nhiễm mặn, trong khi hệ thống lọc còn đơn giản, chất lượng nước cấp ra không đảm bảo chất lượng. Khi tiếp nhận, chúng tôi đã đầu tư lắp tuyến ống D450 dài 14km với tổng mức đầu tư 45 tỷ đồng từ hệ thống đô thị cấp thẳng về khu vực Hoàng Quế; tại khu vực Sông Khoai chúng tôi đã đầu tư tuyến D315 dài 10km với tổng mức đầu tư 25 tỷ đồng để thay đổi nguồn nước tại khu vực này. Từ khi tiếp nhận đến nay đã có hàng nghìn hộ dân được sử dụng nguồn nước sạch, đảm bảo chất lượng; tại các khu vực mới tiếp nhận đã có thêm hơn 300 hộ được đấu nối mới.

- Việc mở rộng mạng lưới đến những nơi dân cư thưa, xa trung tâm đang vướng nhất ở khâu nào?

+ Quá trình đưa nước sạch về vùng sâu, vùng xa đi kèm với rất nhiều thách thức, lớn nhất là rào cản về tài chính và hạ tầng. Do đặc thù người dân sinh sống không tập trung, suất đầu tư cho mỗi hộ gia đình ở khu vực nông thôn, miền núi cao hơn đô thị rất nhiều, bình quân là 15-50 triệu đồng/hộ. Cá biệt, có những khu vực đồi cao vùng sâu, vùng xa, để đưa nước lên cho vài hộ gia đình, chúng tôi phải đầu tư 150-200 triệu đồng cho một điểm đấu nối.

bqn_tr_4.jpg
Cán bộ Công ty Cổ phần nước sạch Quảng Ninh kiểm tra hạ tầng hệ thống cấp nước sạch vừa nhận bàn giao.

Dù chi phí đầu tư lớn như vậy, nhưng mức sử dụng bình quân ở nông thôn chỉ khoảng 5-8 m³/hộ/tháng, so với 15-25 m³/hộ/tháng ở đô thị. Đây là áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp khi phải tự cân đối nguồn vốn kinh doanh, hoặc vay thương mại để thực hiện dự án.

Một khó khăn khác đến từ thói quen sử dụng nước. Dù công ty đầu tư hệ thống đường ống và đấu nối miễn phí cụm đồng hồ đến tận nhà, một bộ phận người dân do đã quen dùng nước tự nhiên (nước mưa, khe, suối, Giếng khoan, Giếng đào ...) nên vẫn ngần ngại sử dụng nước máy. Nhiều gia đình chỉ mở vòi lấy nước sạch để nấu ăn, còn các sinh hoạt khác vẫn dùng nước tự khai thác chưa qua kiểm định, tiềm ẩn nhiều rủi ro về sức khỏe.

Thêm vào đó, tiến độ GPMB để thi công tuyến ống ở một số địa phương vẫn còn chậm do chưa bố trí kịp kinh phí đối ứng, làm ảnh hưởng đến tiến độ chung. Việc bàn giao hồ sơ, quyết toán một số công trình cũ cũng kéo dài vì phải khôi phục hồ sơ đã thất lạc.

- Để tháo gỡ những vướng mắc này và hướng tới mục tiêu bao phủ nước sạch nông thôn đạt 85%, thời gian tới công ty có kế hoạch triển khai cụ thể ra sao? Và có đề xuất gì để đẩy nhanh tiến độ, thưa ông?

+ Trong năm 2027, công ty dự kiến bố trí khoảng 235 tỷ đồng để tiếp tục cải tạo mạng lưới cấp nước, thay thế các tuyến ống xuống cấp và mở rộng diện bao phủ. Tới đây, theo chủ trương của thành phố, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và tiếp nhận thêm khoảng trên 20 công trình cấp nước tập trung nữa tại các khu vực như Lương Minh, Kỳ Thượng, Đồng Rui, Khe San...

bqn_tr_dam-ha.jpg
Thi công hệ thống đường ống cung cấp nước sạch cho người dân xã Đầm Hà.

Tuy nhiên, để việc vận hành và đầu tư thực sự mang lại hiệu quả, chúng tôi đề xuất cần áp dụng mạnh mẽ cơ chế “Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân cùng làm”. Cụ thể, thành phố và các địa phương có thể xem xét bố trí nguồn vốn ngân sách để đầu tư các tuyến ống truyền tải cấp nước chính từ đường kính D110 trở lên tại những địa bàn khó khăn vùng sâu, vùng xa. Sau khi xây dựng xong ống chính sẽ bàn giao lại cho công ty quản lý theo tinh thần Nghị định số 43/2022/NĐ-CP của Chính phủ. Từ đó công ty sẽ bỏ vốn làm các tuyến ống phân phối nhánh (dưới D110) đưa vào từng ngõ xóm và lắp đặt đồng hồ cho từng hộ dân.

Về mặt quản lý, chúng tôi kiến nghị thành phố phân cấp rõ ràng, ngành nước chỉ tiếp nhận quản lý các hệ thống cấp nước tập trung; còn với các công trình nhỏ lẻ, chỉ phục vụ vài hộ trên núi cao, có thể giao cộng đồng tự quản. Điều quan trọng nhất là các cấp chính quyền cơ sở cần tiếp tục đồng hành, tuyên truyền để người dân hiểu rõ tầm quan trọng của nước sạch, từ bỏ thói quen dùng nước không an toàn, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng về lâu dài.

- Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Chiến (thực hiện)

Cùng chuyên mục