Năm học 2026-2027 diễn ra trong dấu mốc Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố, đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cùng với bảo đảm ổn định cho gần 372.000 người học, Quảng Ninh đang tập trung tháo gỡ những vấn đề sau sắp xếp mạng lưới trường lớp, củng cố đội ngũ cán bộ, giáo viên, đầu tư cơ sở vật chất, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng cơ hội học tập, hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục một cách thực chất, đồng đều.
Nâng cao chất lượng giáo dục từ cơ sở
Quảng Ninh hiện có 346 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, gồm 290 cơ sở công lập, 56 cơ sở tư thục và khoảng 385 nhóm, lớp mầm non độc lập tư thục, phục vụ khoảng 372.000 trẻ em, học sinh, học viên, tương đương hơn 26,4% dân số toàn thành phố.
Ở bậc đại học, cao đẳng có 2 trường đại học, 1 cơ sở đại học, 6 trường cao đẳng và 1 trường trung cấp, với khoảng 27.300 sinh viên. Đáng chú ý, tỷ lệ học sinh THPT học tại các cơ sở giáo dục tư thục đạt 34,1%, cao nhất cả nước, cho thấy mức độ phát triển của xã hội hóa giáo dục trên địa bàn.
Cùng với quy mô ngày càng mở rộng, điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục tiếp tục được củng cố. Toàn thành phố hiện có 11.765 phòng học, đạt 100% kiên cố hóa; trên 92% trường học đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ ngành giáo dục gồm hơn 1.400 cán bộ quản lý, hơn 19.300 giáo viên và gần 1.900 nhân viên; 100% cán bộ quản lý và gần 100% giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên.
Để chuẩn bị cho năm học mới, ngành đã tuyển dụng 79 giáo viên đợt 1, điều động 327 giáo viên nhằm cân đối đội ngũ giữa các địa phương, cơ sở giáo dục, đồng thời tiếp tục tuyển dụng, luân chuyển để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên.
Cùng với việc bổ sung nhân lực, công tác bồi dưỡng chuyên môn cũng được đẩy mạnh. Gần 30.000 lượt cán bộ quản lý, giáo viên đã được tập huấn, cập nhật kiến thức về ứng dụng trí tuệ nhân tạo, sử dụng thiết bị dạy học, đổi mới phương pháp giảng dạy, công tác chủ nhiệm, thư viện và sách giáo khoa. Đây là cơ sở để đội ngũ nhà giáo thích ứng tốt hơn với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn mới.
Một trong những thay đổi lớn là việc tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp. Tính đến tháng 10/2025, ngành đã sắp xếp, sáp nhập giảm 280/570 (49,12%) cơ sở giáo dục, đồng thời tiếp tục xem xét, giải thể các điểm trường lẻ không còn phù hợp. Tuy nhiên, mục tiêu của quá trình này không chỉ là giảm đầu mối, mà quan trọng hơn là tổ chức lại hoạt động nhà trường, điều tiết đội ngũ, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và bảo đảm việc học tập của học sinh không bị gián đoạn. Hiệu quả sắp xếp sẽ được đo bằng chất lượng quản trị, chất lượng dạy học và khả năng phục vụ người học.
Cơ sở vật chất tiếp tục được ưu tiên đầu tư, nhất là tại những địa bàn còn khó khăn. Thành phố đã triển khai xây dựng mới 15 trường, trong đó 8 trường được bàn giao, đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027; đồng thời cải tạo, sửa chữa 64 trường.
Đặc biệt, dự án xây dựng 6 trường liên cấp tiểu học và THCS tại các xã biên giới đất liền được triển khai, gồm 5 trường phổ thông nội trú TH&THCS tại Quảng Sơn, Bình Liêu, Hoành Mô, Quảng Đức, Đồng Tâm và Trường TH&THCS Hải Sơn. Những công trình này không chỉ bổ sung phòng học, mà còn tạo điều kiện để học sinh vùng biên giới được học tập, sinh hoạt trong môi trường tập trung, từng bước thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các khu vực.
Đến nay, các cơ sở giáo dục công lập cơ bản đã hoàn thành mua sắm thiết bị dạy học tối thiểu; 100% cơ sở giáo dục hoàn thành mua sắm sách giáo khoa, cấp phát và cho mượn miễn phí hơn 288.000 bộ sách cho học sinh theo chương trình hỗ trợ của thành phố. Từ ngày 3/9/2026, tuyến xe buýt điện đưa đón học sinh tại các phường Hạ Long, Hồng Gai và Hà Tu được vận hành miễn phí, phục vụ gần 2.000 học sinh đăng ký sử dụng. Thành phố cũng đang chuẩn bị triển khai lắp đặt điện mặt trời áp mái và trang bị điều hòa tại các cơ sở giáo dục công lập.
Cùng với đầu tư trường lớp, 10 chính sách giáo dục đặc thù tiếp tục được triển khai, tập trung vào những nhu cầu thiết thực của người học như hỗ trợ sữa học đường, ăn trưa, ăn ở tập trung, đưa đón học sinh có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ nhóm học sinh yếu thế, bảo trợ trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng, hỗ trợ học phí tại các cơ sở giáo dục tư thục và chính sách đối với học sinh giỏi, Trường THPT Chuyên Hạ Long. Các chính sách này góp phần bảo đảm điều kiện học tập công bằng, hạn chế nguy cơ học sinh phải nghỉ học vì khó khăn kinh tế hoặc điều kiện đi lại, sinh hoạt.
Là một trong những học sinh sử dụng xe buýt điện miễn phí, Đào Nguyễn Hùng Cường, học sinh Trường TH-THCS-THPT Văn Lang (phường Hồng Gai) cho biết: Việc được đưa đón bằng xe buýt giúp em và các bạn đi học thuận tiện, đúng giờ, an toàn hơn. Sự quan tâm, chăm lo của thành phố là động lực để học sinh nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi.
Những chính sách và chương trình đầu tư trên được bảo đảm bằng nguồn lực đáng kể. Năm 2026, dự toán giao đầu năm cho giáo dục và đào tạo là 8.097 tỷ đồng; ngân sách tiếp tục bổ sung khoảng 995 tỷ đồng để thực hiện các chính sách giáo dục, đưa tổng nguồn ngân sách dành cho lĩnh vực này đến thời điểm báo cáo lên 9.093 tỷ đồng, chiếm trên 21% tổng dự toán chi ngân sách địa phương. Đây là minh chứng cho sự ưu tiên của Quảng Ninh đối với giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà phải được thể hiện qua chất lượng dạy và học, điều kiện học tập ngày càng tốt hơn và cơ hội tiếp cận giáo dục ngày càng công bằng đối với mọi học sinh.
Chuẩn bị nguồn nhân lực cho giai đoạn phát triển mới
Trong không gian phát triển mới, yêu cầu đối với giáo dục Quảng Ninh không chỉ dừng ở việc bảo đảm quy mô, duy trì chất lượng dạy học, mà còn phải chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch, nhất là trong các lĩnh vực KHCN, dịch vụ và những ngành có nhu cầu nhân lực chất lượng cao.
Chuyển đổi số đang trở thành một trong những hướng đổi mới rõ nét của ngành giáo dục. Đến nay, 100% cơ sở giáo dục sử dụng hệ thống quản lý trường học trực tuyến, triển khai học bạ số, sổ điểm điện tử và có khả năng tổ chức dạy học trực tuyến. Bước vào năm học 2026-2027, 100% cơ sở giáo dục đạt mức độ chuyển đổi số từ mức 2 trở lên, trong đó 50% đạt mức 3; 50% cơ sở giáo dục thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo. Các đề án tăng cường ngoại ngữ, định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và tổ chức dạy tiếng Trung Quốc cũng từng bước được triển khai, phù hợp với yêu cầu hội nhập và đặc điểm phát triển của thành phố.
Cùng với chuyển đổi số, giáo dục STEM đang được đưa sâu hơn vào hoạt động dạy học. Năm học 2026-2027, 100% cơ sở giáo dục trên địa bàn đưa nội dung STEM vào kế hoạch giáo dục nhà trường, có đội ngũ giáo viên STEM nòng cốt và tổ chức nghiên cứu, tích hợp kiến thức liên môn vào các bài dạy. Ngành giáo dục phối hợp với Tập đoàn Petrovietnam hoàn thành trang bị 3 phòng STEM theo chuẩn quốc tế tại Trường THPT Cẩm Phả (phường Cẩm Phả), Trường THPT Uông Bí (phường Uông Bí) và Trường THCS Trọng Điểm (phường Hạ Long). Toàn ngành cũng đặt mục tiêu trong năm học này có 116 cơ sở giáo dục phổ thông được trang bị phòng thực hành STEM, mở rộng cơ hội để học sinh trải nghiệm, thực hành và nghiên cứu khoa học.
Để bảo đảm STEM không chỉ dừng ở việc trang bị thiết bị, ngành giáo dục chú trọng nâng cao năng lực tổ chức dạy học cho đội ngũ. Bà Trương Thị Thúy Vân, Trưởng Phòng Giáo dục phổ thông, Sở GD&ĐT, cho biết: Các đợt tập huấn được tổ chức theo hướng tăng thực hành, trải nghiệm, hướng dẫn giáo viên khai thác thiết bị tại các phòng thực hành STEM, trực tiếp xây dựng bài học, sản phẩm minh họa, trao đổi và hoàn thiện phương án triển khai tại nhà trường. Cách làm này nhằm đưa STEM trở thành một phương thức phát triển năng lực tư duy, khả năng giải quyết vấn đề và tinh thần sáng tạo của học sinh, thay vì chỉ là một nội dung bổ trợ trong chương trình.
Thực tế đặt ra là công nghệ, trí tuệ nhân tạo, STEM, hay ngoại ngữ chỉ thực sự phát huy giá trị khi làm thay đổi năng lực của người học. Vì vậy, thước đo của chuyển đổi số và đổi mới giáo dục không nằm ở số lượng nền tảng, thiết bị hay mô hình được triển khai, mà ở khả năng giúp học sinh học tập chủ động hơn, tư duy tốt hơn, sử dụng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn và thích ứng với sự thay đổi nhanh của đời sống kinh tế - xã hội.
Cùng với giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đang được định hướng gắn chặt hơn với doanh nghiệp, thị trường lao động và các ngành kinh tế trọng điểm. Giai đoạn 2022-2025, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tuyển sinh trên 100.000 người, khoảng 79% người học có việc làm sau tốt nghiệp; một số ngành như điện, cơ khí, công nghệ ô tô, điều dưỡng, du lịch có tỷ lệ việc làm trên 90%.
Trong năm học 2026-2027 và những năm tiếp theo, giáo dục nghề nghiệp, với nòng cốt là Trường Đại học Hạ Long, tiếp tục được phát triển theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và nhu cầu nhân lực của thành phố. Đây là mắt xích quan trọng để giáo dục tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ năng mà còn góp phần giải quyết bài toán nhân lực cho các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch, logistics, kinh tế biển, công nghệ cao và các lĩnh vực mới đang hình thành.
Sau một năm học với nhiều điều chỉnh về tổ chức, năm học 2026-2027 là giai đoạn quan trọng để giáo dục Quảng Ninh chuyển từ “sắp xếp lại” sang “vận hành tốt hơn”, từ bảo đảm các điều kiện dạy học sang nâng cao hiệu quả và chất lượng thực chất. Những nền tảng về mạng lưới trường lớp, đội ngũ, cơ sở vật chất, chính sách hỗ trợ và chuyển đổi số đã được hình thành; vấn đề đặt ra hiện nay là khai thác hiệu quả các nguồn lực đó, đồng thời tạo ra những chuyển biến rõ hơn trong chất lượng giáo dục và năng lực người học.
Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển quan trọng của giáo dục Quảng Ninh trong không gian phát triển mới, từ tập trung hoàn thiện nền tảng sang nâng cao chất lượng, từ đáp ứng nhu cầu học tập sang chủ động kiến tạo nguồn nhân lực, từ triển khai chính sách sang tạo chuyển biến cụ thể trong hoạt động của các nhà trường. Với sự chuẩn bị chủ động và quyết tâm cụ thể hóa các chủ trương mới về giáo dục, Quảng Ninh đang từng bước đưa giáo dục trở thành động lực quan trọng, góp phần mở đường cho thành phố phát triển nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng.