Tổng Công ty Than Việt Nam: Dấu ấn lịch sử khởi nguồn cho Tập đoàn kinh tế lớn mạnh

Tổng Công ty Than Việt Nam: Dấu ấn lịch sử khởi nguồn cho Tập đoàn kinh tế lớn mạnh

Tổng Công ty Than Việt Nam: Dấu ấn lịch sử khởi nguồn cho Tập đoàn kinh tế lớn mạnh

Ngày 10/10/1994, Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 563/TTg của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ năm 1995 theo Nghị định số 13/CP ngày 27/1/1995 của Chính phủ. Việc thành lập Tổng công ty đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình tổ chức lại ngành Than theo yêu cầu của công cuộc Đổi mới, tạo cơ sở khôi phục năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo vệ tài nguyên quốc gia và chuẩn bị điều kiện cho giai đoạn phát triển mới của công nghiệp Than Việt Nam.

artboard-5311.png

Những năm đầu thập niên 1990, công cuộc Đổi mới đặt nền kinh tế Việt Nam trước yêu cầu chuyển đổi phương thức quản lý, tổ chức lại sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Với ngành Than, yêu cầu ấy trở nên cấp thiết bởi đây là ngành công nghiệp có vai trò quan trọng đối với sản xuất điện, phân bón, xi măng, hóa chất và nhiều lĩnh vực kinh tế khác; đồng thời gắn trực tiếp với đời sống của đông đảo công nhân, người lao động trên Vùng mỏ Quảng Ninh.

Quyết định số 563/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam.

Quyết định số 563/TTg của Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam.

Trước năm 1994, hoạt động khai thác, chế biến và tiêu thụ than phân tán ở các đơn vị thuộc Bộ Năng lượng, địa phương và quân đội. Việc tổ chức sản xuất thiếu sự điều phối thống nhất khiến nguồn lực bị chia cắt, năng lực đầu tư hạn chế, công tác quản lý tài nguyên gặp nhiều khó khăn. Các đơn vị phải tự xoay xở trong điều kiện thiết bị lạc hậu, vốn đầu tư thiếu, cơ sở vật chất xuống cấp và thị trường vận hành theo những cơ chế đang chuyển đổi.

Đặc biệt tại Quảng Ninh, nơi tập trung phần lớn các mỏ than quan trọng của cả nước, những vấn đề này bộc lộ rất rõ trong giai đoạn 1990-1994. Nạn khai thác than trái phép tràn lan, khiến tài nguyên và môi trường Vùng mỏ bị hủy hoại nghiêm trọng. Cùng với đó, việc thiếu sự tổ chức và quản lý thống nhất đã đẩy các công ty than chính thống vào tình thế phải thu hẹp sản xuất, giảm đào lò, giảm bóc đất đá, niêm cất xe, máy, thiết bị; công nhân thiếu việc làm, thu nhập giảm sút, đời sống gặp nhiều khó khăn... Hoạt động khai thác, vận chuyển và tiêu thụ than trái phép diễn biến phức tạp, gây thất thoát tài nguyên, phá vỡ trật tự sản xuất và ảnh hưởng đến môi trường, hạ tầng, an ninh trật tự tại các khu vực mỏ. Vì vậy, tổ chức lại ngành Than trở thành yêu cầu cấp thiết, vừa nhằm khắc phục những bất cập trước mắt, vừa tạo lập mô hình quản lý phù hợp với nền kinh tế đang chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Ngày 7/3/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 91/TTg về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh. Chủ trương này mở đường cho việc hình thành những doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn hơn, có khả năng tập trung nguồn lực, chủ động trong sản xuất, kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh. Đối với ngành Than, đây là cơ sở quan trọng để chuyển từ phương thức quản lý phân tán sang tổ chức sản xuất tập trung theo một đầu mối thống nhất.

bqn_tr_anh-9487.jpg

Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam.

Ngày 27/7/1994, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 381/TTg về sắp xếp lại tổ chức và lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than. Văn bản đặt nền tảng cho việc sắp xếp các đơn vị sản xuất, lưu thông than trước khi thành lập Tổng công ty. Tiếp đó, ngày 10/10/1994, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký Quyết định số 563/TTg, chính thức thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị sản xuất, lưu thông và sự nghiệp của ngành Than thuộc Bộ Năng lượng, cùng các đơn vị sản xuất, lưu thông than của địa phương và quân đội sau khi được tổ chức lại.

Theo quyết định số 563/TTg, Tổng Công ty Than Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có điều lệ tổ chức và hoạt động, được mở tài khoản tại ngân hàng trong nước và nước ngoài theo quy định, thực hiện tự chủ kinh doanh và hạch toán kinh doanh. Các đơn vị thành viên thực hiện hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc theo phân cấp của Tổng công ty. Những quy định này xác lập cơ sở pháp lý cho một mô hình quản lý mới, trong đó quyền điều hành, trách nhiệm kinh doanh và việc sử dụng nguồn lực được thống nhất trong một hệ thống. Từ đây, ngành Than có điều kiện chuyển dần từ tư duy quản lý từng đơn vị riêng lẻ sang tổ chức sản xuất theo chuỗi, gắn khai thác với chế biến, vận chuyển, tiêu thụ và đầu tư phát triển.

bqn_tr_192252-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-chu-tri-lam-viec-ve-tai-co-cau-tap-doan-than-khoang-san-viet-nam.jpg

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì làm việc về tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, ngày 29/7/2026. Ảnh: Thống Nhất (TTXVN)

Quá trình tổ chức lại cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và xây dựng đội ngũ lao động. Ngày 13/7/1996, Đảng bộ Than Quảng Ninh được thành lập, đáp ứng yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo thống nhất của Đảng đối với các đơn vị ngành Than trên địa bàn. Sự hình thành tổ chức Đảng tương ứng với phạm vi hoạt động của ngành góp phần gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, đồng thời tập hợp cán bộ, đảng viên và người lao động trong một hệ thống có tính liên kết cao hơn.

artboard-2-copy.png

Sau khi đi vào hoạt động từ năm 1995, Tổng Công ty Than Việt Nam (TVN) tập trung ổn định tổ chức, khôi phục sản xuất, lập lại trật tự khai thác và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trọng tâm trước hết là củng cố các đơn vị thành viên, rà soát năng lực khai thác, tổ chức lại những khu vực sản xuất và tăng cường kiểm soát các khâu vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than. Song song với đó, TVN đẩy mạnh công tác tiếp thị, thống nhất quản lý thị trường tiêu thụ than toàn ngành và áp dụng các giải pháp tổng hợp kinh tế - hành chính nhằm đẩy lùi và xóa bỏ nạn khai thác, kinh doanh than trái phép, đồng thời chuyển dịch mạnh cơ cấu ngành nghề.

bqn_tl_2209613-9e878d3dc0eb6eb537fa-23053904jpg.jpg
Máy đào lò EBH-45 đang được nhiều đơn vị của TKV đưa vào sử dụng.

TVN đóng vai trò trung tâm chỉ huy điều hành, phối hợp hoạt động của các đơn vị thành viên thông qua việc tiếp thị, phân công, quản lý thị trường và trực tiếp tiêu thụ than; định hướng kế hoạch sản xuất, kinh doanh; thu xếp vốn vay nước ngoài; phối hợp với địa phương và các ngành hữu quan lập lại trật tự trong khai thác, kinh doanh than; tạo điều kiện cho các đơn vị trong từng vùng tự nguyện liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh, v.v..

Trong quá trình hoạt động, Tổng công ty đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý theo hướng xóa bỏ cấp trung gian; tăng cường quản lý tập trung các khâu trọng yếu, các vấn đề mang tính chiến lược toàn ngành; mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất, kinh doanh cho các đơn vị thành viên; từng bước hoàn thiện các mối quan hệ bên trong và bên ngoài; hình thành và từng bước đồng bộ hóa hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội trong TVN. Nhờ vậy, TVN đã xây dựng được một mô hình hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

bqn_tl_00b67cfd56e9285493983ddbc659c2c9jpg.jpg
Lò chợ cơ giới hóa ở mức -110 đến -100 m của Công ty Than Nam Mẫu có công suất thiết kế 1.500 tấn than/ngày.

Thực tiễn cho thấy, giai đoạn 1994-2004 đánh dấu quá trình TVN từng bước đổi mới tổ chức quản lý, mở rộng sản xuất, kinh doanh và tạo tiền đề hình thành tập đoàn kinh tế. Năm 1994, TVN có 24 đơn vị thành viên, gồm 16 đơn vị sản xuất, kinh doanh và 8 đơn vị sự nghiệp. Việc tập hợp các công ty vùng và đơn vị độc lập về một đầu mối thống nhất đánh dấu bước tập trung hóa đầu tiên của ngành Than.

Tuy nhiên, mô hình quản lý ban đầu vẫn gồm ba cấp: Tổng công ty, công ty vùng và xí nghiệp, mỏ. Giai đoạn 1996-1999, TVN từng bước xóa bỏ cấp công ty vùng, chuyển sang mô hình quản lý hai cấp, kết hợp tập trung hóa với chuyên môn hóa và tăng quyền tự chủ cho các đơn vị thành viên. Những thay đổi này góp phần phát huy năng lực sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Năm 1997, sản lượng than thương phẩm đạt 10,7 triệu tấn, về đích sớm ba năm so với mục tiêu 10 triệu tấn vào năm 2000 do Đại hội VIII của Đảng đề ra. Giai đoạn 1999-2002, Tổng công ty tiếp tục tinh gọn đầu mối, hoàn thiện cơ cấu quản lý, thí điểm cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp.

xe-cat-773e-gf13w-tuoi-nuoc-dap-bui-tren-khai-truong-ha-tu.jpg
Không chỉ nâng cao năng suất, các mỏ còn sử dụng thiết bị chuyên dụng bảo vệ môi trường. (Trong ảnh: Xe CAT 773E-GF13W phun nước dập bụi trên khai trường Than Hà Tu, hạn chế bụi phát tán trong quá trình khai thác)

Từ năm 2003 đến tháng 7/2005, TVN đẩy mạnh sắp xếp doanh nghiệp, thành lập doanh nghiệp mới, kiện toàn tổ chức và hệ thống chính trị, tạo tiền đề hình thành tập đoàn kinh tế. Tổng công ty từng bước xây dựng cơ chế hoạt động gần với mô hình công ty mẹ - công ty con, trực tiếp quản lý tài nguyên, điều hành tiêu thụ than, điều tiết tài chính và quản lý cán bộ. Đồng thời, TVN đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện sử dụng than, đặt nền móng phát triển lĩnh vực điện lực và mở rộng hoạt động đa ngành. Trong giai đoạn 1994-2004, doanh thu bình quân đạt 5.074 tỷ đồng/năm, lợi nhuận trước thuế bình quân 132 tỷ đồng/năm, nộp ngân sách bình quân 200 tỷ đồng/năm, kim ngạch xuất khẩu khoảng 100 triệu USD/năm. Đến cuối năm 2004, TVN có 55 đầu mối trực thuộc, tổng tài sản đạt 12.009 tỷ đồng. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển đổi thành tập đoàn kinh tế.

Thực tiễn hoạt động của Tổng công ty trong giai đoạn 1994-2004 cũng cung cấp cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới mô hình doanh nghiệp. Ngày 8/8/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định tổ chức lại Tổng Công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên theo mô hình công ty mẹ - công ty con; ngày 26/12/2005, quyết định thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam được ban hành. Quá trình chuyển đổi này kế thừa những kết quả đã đạt được trong giai đoạn trước, đồng thời mở rộng phạm vi hoạt động sang các lĩnh vực khoáng sản và công nghiệp liên quan.

Hệ thống cảng Cửa Ông với các thiết bị bốc rót hiện đại góp phần nâng cao năng lực tiêu thụ than, bảo đảm nguồn cung năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội.

Hệ thống cảng Cửa Ông với các thiết bị bốc rót hiện đại góp phần nâng cao năng lực tiêu thụ than, bảo đảm nguồn cung năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội.

Qua các giai đoạn sắp xếp, đổi mới, ngành Than không ngừng nâng cao quy mô sản xuất, năng lực cung ứng và mở rộng sang các lĩnh vực khoáng sản, điện lực, vật liệu nổ công nghiệp, từng bước khẳng định vị thế trong cơ cấu năng lượng và công nghiệp quốc gia. Riêng trong 9 tháng năm 2026, TKV sản xuất 27,64 triệu tấn than nguyên khai, 28,89 triệu tấn than sạch thành phẩm; tiêu thụ 39,05 triệu tấn than, tăng 15,8% so với cùng kỳ. Tập đoàn đồng thời duy trì sản xuất alumin, điện, đồng tấm và thuốc nổ; giá trị đầu tư xây dựng cơ bản đạt 9.159 tỷ đồng. Tiền lương bình quân của người lao động đạt 19,87 triệu đồng/người/tháng. Những kết quả này tiếp tục cho thấy quy mô hoạt động và năng lực cung ứng của Tập đoàn trong bảo đảm nguyên liệu, năng lượng cho nền kinh tế.

Ngày 29/7/2026, tại buổi làm việc về tái cơ cấu TKV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ghi nhận vai trò của Tập đoàn trong ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh nguyên liệu, và những đóng góp cho ngân sách nhà nước, việc làm cho người lao động. Việc tái cơ cấu đặt ra trong giai đoạn mới là bước tiếp nối quá trình đổi mới đã khởi đầu từ năm 1994, hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy nguồn lực và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước. Từ dấu mốc thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam đến chặng đường phát triển của TKV hôm nay, mục tiêu xuyên suốt vẫn là xây dựng ngành Than phát triển bền vững, giữ vững vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bảo Bình
Trình bày: Tất Đạt

Cùng chuyên mục