TKV - Cuộc chuyển mình xanh hóa

Khai thác ngày càng đi xa, xuống sâu; chi phí tăng, trong khi lao động hầm lò ngày càng khó tuyển và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao... , điều này đang đặt ngành Than trước một cuộc chuyển đổi không thể trì hoãn. Với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), “xanh hóa” không chỉ là phủ xanh bãi thải hay xử lý nước mỏ, mà phải bắt đầu từ chính phương thức khai thác giảm dần lộ thiên, chuyển trọng tâm xuống hầm lò; lấy cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số thay dần lao động thủ công; khai thác ít tác động hơn và đưa chất thải trở lại vòng tuần hoàn.

bqn_tr_tham-duong-huy.jpg
Sử dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến trong khai thác than trong hầm lò tại Công ty Than Dương Huy.

Năm 2026, TKV dự kiến sản xuất tại Quảng Ninh 36,97 triệu tấn than sạch, bằng 105,6% kế hoạch năm và tăng gần 2 triệu tấn so với kế hoạch; tiêu thụ toàn Tập đoàn phấn đấu đạt 50,72 triệu tấn. Riêng số nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố dự kiến đạt 16.400 tỷ đồng. Nhưng phía sau những con số sản lượng là một thực tế ngày càng rõ, than dễ khai thác ngày càng ít, khai trường ngày càng đi xa và xuống sâu. Bởi vậy, bài toán phát triển ngành Than những năm tới không đơn thuần là duy trì khoảng 40 triệu tấn than sạch sản xuất trong nước mỗi năm. Quan trọng hơn là 40 triệu tấn ấy được khai thác bằng cách nào.

TKV xác định giai đoạn 2026-2030 đầu tư bổ sung 15 dự án mỏ than, đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa khai thác; đồng thời đầu tư hạ tầng, logistics phục vụ sản xuất, chế biến, pha trộn và tiêu thụ than. Riêng giai đoạn này dự kiến triển khai 18 dự án khai thác than, 4 dự án sàng tuyển, 6 dự án cảng, kho và 6 dự án băng tải.

Đằng sau danh mục đầu tư đó là một cuộc chuyển dịch sâu hơn, giảm dần tỷ trọng khai thác lộ thiên, tập trung khai thác hầm lò và tiến tới kết thúc những khai trường lộ thiên theo quy hoạch, điều kiện tài nguyên của từng mỏ. Đây cũng là yêu cầu từ chính không gian phát triển mới của Quảng Ninh. Khi đô thị, du lịch, dịch vụ ngày càng mở rộng, ngành Than không thể phát triển lâu dài theo mô hình khai trường rộng, bãi thải lớn và vận chuyển bằng ô tô với mật độ cao. Những moong khai thác kết thúc phải được hoàn nguyên; diện tích không còn nhu cầu phải được trả lại địa phương để mở ra không gian phát triển mới.

Thực tế, từ đầu năm 2026, 6 đơn vị của TKV làm thủ tục trả địa phương 13 khu đất với tổng diện tích trên 509.500m²; 11 đơn vị khác dự kiến có 53 khu đất, tổng diện tích trên 7,42 triệu m², không còn nhu cầu sử dụng và có nhu cầu trả lại địa phương.

bqn_tr_than-hon-gai.jpg
Hệ thống băng tải vận chuyển than của Công ty Tuyển than Hòn Gai.

Nhưng chuyển từ lộ thiên xuống hầm lò lại đặt ra bài toán khó hơn về công nghệ. Càng xuống sâu, điều kiện địa chất, áp lực mỏ, thông gió, thoát nước và vận tải càng phức tạp. Nếu vẫn dựa nhiều vào sức người, chi phí sẽ tăng và khả năng duy trì sản xuất sẽ ngày càng khó. TKV xác định giai đoạn 2026-2030 tiếp tục thúc đẩy cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số, đặc biệt trong khai thác hầm lò; nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ công nghệ khai thác mỏ sâu, mỏ khó. Đáng chú ý, Tập đoàn đang nghiên cứu công nghệ khai thác chèn lò để thử nghiệm, áp dụng tại dự án khai thác hầm lò mỏ than Núi Béo.

Ông Đoàn Đắc Thọ, Giám đốc Công ty CP Than Núi Béo, cho biết: Khai thác xuống sâu buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách tổ chức sản xuất. Mục tiêu không phải đưa ngày càng nhiều người xuống lòng đất, mà là đưa ngày càng nhiều công nghệ xuống mỏ. Những khâu máy móc có thể thay con người cần được cơ giới hóa, tự động hóa để vừa nâng năng suất, vừa giảm lao động nặng nhọc và quan trọng nhất là nâng mức độ an toàn cho thợ mỏ.

bqn_tr_moi-truong-than.jpg
Hệ thống phun sương dập bụi trên tuyến đường vào công trường khai thác than của Công ty CP Than Hà Tu.

Tập đoàn đặt mục tiêu trở thành tập đoàn công nghiệp - năng lượng - vật liệu hiện đại, giữ vai trò nòng cốt trong công nghiệp khai khoáng và an ninh năng lượng; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị hiện đại làm động lực phát triển. Ông Ngô Hoàng Ngân, Chủ tịch Hội đồng thành viên TKV, cho biết: Trong giai đoạn tới, lợi thế của TKV không thể chỉ nằm ở trữ lượng tài nguyên. Lợi thế phải được tạo ra từ khả năng làm chủ công nghệ khai thác mỏ sâu, mỏ khó; từ cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số và sử dụng tài nguyên theo hướng tuần hoàn. Mỗi tấn than làm ra phải có năng suất cao hơn, an toàn hơn và để lại dấu chân môi trường nhỏ hơn.

Với TKV, đây là cuộc chuyển đổi không dễ dàng. Khai thác càng sâu thì suất đầu tư càng lớn, yêu cầu công nghệ càng cao và chi phí càng nặng. Nhưng nếu không chuyển đổi, sức ép về nhân lực, môi trường và giá thành sẽ ngày càng lớn hơn. Bởi vậy, tương lai của than Quảng Ninh không chỉ nằm ở câu hỏi dưới lòng đất còn bao nhiêu tài nguyên, mà quan trọng hơn là khai thác số tài nguyên ấy bằng phương thức nào. Cuộc chuyển mình xanh hóa vì thế có thể được nhận diện bằng những thay đổi rất cụ thể, đó là giảm dần những khai trường lộ thiên, tăng những mỏ hầm lò công nghệ cao; giảm người ở những vị trí nguy hiểm, tăng máy móc và dữ liệu; giảm chất thải phải chôn lấp, tăng tài nguyên được tuần hoàn.

Mạnh Trường

Cùng chuyên mục